Phần mở đầu và Kết luận, Đề tài luận văn đƣợc chia ra thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tác động của tiêu thụ năng lƣợng tới tăng trƣởng kinh tế Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng tác động tiêu thụ năng lƣợng điện đến tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1986 - 2020 Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp về tiêu thụ năng lƣợng điện nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TIÊU THỤ NĂNG LƢỢNG TỚI TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của tiêu thụ năng lƣợng tới tăng trƣởng kinh tế 1.1 Năng lượng là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều này cho thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ tiêu thụ năng lƣợng đến tăng trƣởng kinh tế. Có nghĩa là, việc tăng tiêu thụ năng lƣợng sẽ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế bằng các hoạt động sản xuất cao hơn. Nói cách khác, năng lƣợng là yếu tố cơ bản để bất kỳ quốc gia nào đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao và ổn định. Để giải thích cho vấn đề này thì Romer (1980) đã sử dụng lý thuyết tăng trƣởng nội sinh để phân tích tác động tích cực của năng lƣợng tới tăng trƣởng kinh tế.
Thông qua hàm sản xuất Cobb – Douglas cho thấy GDP là một hàm của lao động (L), vốn (K), R (tài nguyên thiên nhiên) và T (tiến bộ công nghệ) hay GDP = f(L,K, R,T). Khi đó thông qua tiến bộ công nghệ sẽ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế mà công nghệ chỉ đƣợc thực hiện khi có nguồn năng lƣợng cung cấp. ví dụ nhƣ vận hành nhà máy điện nếu không có nguồn năng lƣợng điện thì nhà máy không thể vận hành đƣợc. Điều đó chứng tỏ thông qua năng lƣợng đƣợc sử dụng một cách gián tiếp thúc đẩy công nghệ, từ đó tạo động lực cho tăng trƣởng.
Dƣới góc độ thực nghiệm thì có một số nghiên cứu đã chứng tỏ tác động năng lƣợng tới tăng trƣởng kinh tế, điển hình nhƣ Toman M. & Jemelkova (2003) chỉ ra rằng phát triển năng lƣợng là một thành phần quan trọng của phát triển kinh tế cùng một số cách thức mà năng lƣợng ảnh hƣởng 7 đến quá trình phát triển. Các ảnh hƣởng có thể đặc biệt quan trọng ở các nƣớc phát triển thấp, nơi mà các chi phí cơ hội chung của các dạng năng lƣợng kém hiệu quả hay Ciarreta (2006) đã khám phá ra mối quan hệ một chiều ngắn hạn (tiêu thụ năng lƣợng tới tăng trƣởng kinh tế) ở Tây Ban Nha với việc kiểm định nhân quả Granger – VECM hay Evan Lau, Xiao-Hui Chye (2011) đã tìm thấy mối quan hệ nhân quả từ tiêu thụ năng lƣợng đến GDP bình quân đầu ngƣời của 17 nƣớc ASEAN giai đoạn 1980 – 2005 thông qua mối quan hệ nhân quả, kết quả này cũng trùng hợp với nghiên cứu của Damette, O. Một số nghiên cứu gần đây nhƣ của Bekun.V (2019) cho Nigeria, Rafidani và cộng sự (2022) cho kinh tế Pháp cũng kết luận tiêu thụ năng lƣợng cũng sẽ tác động tích cực tới tăng trƣởng kinh tế tại các quốc gia này.
Narayan và Singh (2007) đã điều tra mối quan hệ giữa tiêu thụ điện và tăng trƣởng kinh tế ở Fiji trong khuôn khổ đa biến thông qua việc bao gồm biến lực lƣợng lao động. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận kiểm tra giới hạn cho sự đồng liên kết và nhận thấy rằng tiêu thụ điện, GDP và lực lƣợng lao động chỉ đƣợc liên kết với nhau khi GDP là biến nội sinh. Nghiên cứu sử dụng F -test quan hệ nhân quả Granger và nhận thấy rằng trong dài hạn quan hệ nhân quả kéo dài từ tiêu thụ điện và lực lƣợng lao động đến GDP, hàm ý rằng Fiji là một quốc gia phụ thuộc vào năng lƣợng và do đó các chính sách tiết kiệm năng lƣợng sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trƣởng kinh tế của Fiji. Salah Abosedra và cộng sự (2009) điều tra mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ điện và tăng trƣởng kinh tế ở Lebanon, sử dụng dữ liệu hàng tháng cho Lebanon trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2005.
Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu khẳng định không có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tiêu thụ điện và tăng trƣởng kinh tế ở Lebanon nhƣng có sự tồn tại của quan hệ nhân quả một chiều từ tiêu thụ điện đến tăng trƣởng kinh 8 tế khi đƣợc kiểm tra trong khung tự hồi quy vectơ hai biến với sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm tƣơng đối nhƣ các biến ngoại sinh. Do đó, các nhà hoạch định chính sách ở Lebanon nên đặt ƣu tiên trong giai đoạn đầu của quá trình tái thiết nhằm xây dựng bổ sung năng lực và phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành điện của Lebanon, vì điều này sẽ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc. Bowden và Payne (2009) sử dụng dữ liệu hàng năm của Hoa Kỳ từ năm 1949 đến năm 2006 để xem xét mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lƣợng và GDP thực tế bằng cách sử dụng các biện pháp tiêu thụ năng lƣợng sơ cấp tổng hợp và theo ngành trong khuôn khổ đa biến. Các bài kiểm tra nhân quả dài hạn của Toda-Yamamoto cho thấy mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lƣợng và GDP thực tế không đồng nhất giữa các ngành.
Granger-nhân quả tƣơng ứng không có giữa tổng mức tiêu thụ năng lƣợng sơ cấp và giao thông vận tải và GDP thực tế. Tƣơng ứng, quan hệ nhân quả Granger hai chiều thể hiện giữa mức tiêu thụ năng lƣợng sơ cấp cho thƣơng mại và khu dân cƣ và GDP thực tế. Cuối cùng, kết quả chỉ ra rằng tiêu thụ năng lƣợng sơ cấp trong công nghiệp Granger gây ra GDP thực tế. Kết quả cho thấy rằng các chính sách năng lƣợng và môi trƣờng thận trọng cần nhận ra sự khác biệt trong mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lƣợng và GDP thực tế theo ngành.
Nguyễn Quyết và Vũ Quốc Khánh (2014) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của các nhân tố tiêu thụ điện (EC), đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) và vốn đầu tƣ (K) tới GDP bình quân, thực tiễn tại Việt Nam và đƣợc phân tích đánh giá trên cả hai góc độ ngắn hạn và dài hạn. Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu là dựa vào một số nghiên cứu trƣớc và mô hình tăng trƣởng Cobb-Douglas đƣợc ứng dụng làm cơ sở hình thành mô hình kinh tế lƣợng phục vụ cho phân tích. Phƣơng pháp phân tích chủ yếu đƣợc dựa trên kiểm định Granger, kiểm định đồng liên kết Johansen và mô hình VECM (Vector Error Correction model). 9 Kết quả nghiên cứu cho thấy trong ngắn hạn tiêu thụ điện tác động tích cực tới GDP.2 Tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tới tiêu thụ năng lượng Điều này chứng tỏ tăng trƣởng kinh tế tác động tới tiêu thụ năng lƣợng, do vậy dù tiêu thụ năng lƣợng có thể giảm nhƣng không ảnh hƣởng tới tăng trƣởng kinh tế.
Nghiên cứu của (Kraft, 1978) thể hiển rõ điều đó khi phân tích tăng trƣởng kinh tế Mỹ giai đoạn 1947 – 1974 thông qua việc sử dụng nhân quả Granger cho thấy tăng trƣởng kinh tế Mỹ tác động tích cực tới tiêu thụ năng lƣợng, tức là tăng trƣởng kinh tế càng lớn thì tiêu thụ năng lƣợng càng nhiều. Một số nghiên cứu thực nghiệm khác của Sami (2011), Azlina Abd. Aziz (2011), Kais Saidi (2014) cũng cho thấy rõ điều tƣơng tự. Ngoài ra Stern (1993) và Grossman & Krueger (1991) đã phân tích các yếu tố khác nhau của tăng trƣởng kinh tế đến tiêu thụ năng lƣợng, đó là yếu tố quy mô tức là khi cấu trúc kinh tế và công nghệ sản xuất không thay đổi thì tăng GDP sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng về năng lƣợng; ngoài ra khi tiến bộ khoa học kỹ thuật đƣợc ứng dụng vào trong quá trình sản xuất thì giúp năng lƣợng bớt hao phí hơn từ đó làm giảm nhu cầu tiêu thụ năng lƣợng.
Hơn thế, một số nghiên cứu gần đây nhƣ Pata & Yurtkuran (2017), Kolin S.K (2021), Topolewski, L (2021) cũng đã ủng hộ nghiên cứu này. Sami (2011) điều tra mối quan hệ giữa xuất khẩu, tiêu thụ năng lƣợng và GDP thực cho Nhật Bản trong khoảng thời gian 1960 - 2007. Các phân tích đồng tích hợp giữa các biến và quan hệ nhân quả VECM đƣợc xác nhận có mối quan hệ nhân quả đơn hƣớng từ xuất khẩu và tăng trƣởng kinh tế đến tiêu thụ năng lƣợng. (2011) xem xét các mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lƣợng, giá cả năng lƣợng và tăng trƣởng kinh tế ở Malaysia bằng cách sử dụng một mô hình vector điều chỉnh sai số.
Kết quả thực nghiệm cho 10 Malaysia trong thời gian qua 1970 - 2009, kết quả thực nghiệm quan hệ nhân quả tiết lộ rằng có quan hệ nhân quả Granger ngắn hạn và dài hạn chạy từ tăng trƣởng kinh tế với mức tiêu thụ năng lƣợng cho Malaysia. Kais Saidi, Sami Hammami (2014) nghiên cứu tác động của tăng trƣởng kinh tế, khí thải CO2 lên tiêu thụ năng lƣợng bằng cách sử dụng một khuôn khổ tăng trƣởng và mô hình phƣơng trình đồng thời. Tác giả đã tìm hiểu tác động của lƣợng khí thải CO2 và tăng trƣởng kinh tế tiêu thụ năng lƣợng cho một dữ liệu bảng của 58 quốc gia, mô hình dữ liệu bảng ƣớc tính bằng phƣơng pháp hồi qui GMM cho giai đoạn 1990-2012 cho ba khu vực châu Âu và Bắc Á, Mỹ Latin và Caribbean, và SubSaharan, Bắc Phi và Trung Đông. Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy tác động tích cực đáng kể lƣợng khí thải CO2 trên mức tiêu thụ năng lƣợng cho các khu vực.
Nghiên cứu của Ozturk và cộng sự (2010) kiểm định tính đồng liên kết và mối quan hệ nhân quả Granger giữa tiêu thụ năng lƣợng và GDP bình quân/ngƣời với dữ liệu bảng cho 51 quốc gia thuộc nhóm thu nhập trung bình với 3 mức độ (nhóm thu nhập thấp, nhóm thu nhập trung bình thấp và các nƣớc nhóm thu nhập trung bình cao) trong giai đoạn 1971 – 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối liên hệ đồng liên kết trong cả ba nhóm thu nhập trung bình. Qua kiểm định nhân quả Granger dữ liệu bảng cho thấy có mối quan hệ dài hạn một chiều từ GDP thực tế bình quân/ngƣời đến tiêu thụ năng lƣợng cho nƣớc có thu nhập thấp, và hai mối quan hệ nhân quả hai chiều cho nhóm nƣớc có thu nhập trung bình trong dài hạn.