Đặt vấn đề Chăn nuôi gà ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đã có từ lâu đời và chiếm một vị trí quan trọng trong Nông nghiệp. Vì nó cung cấp một lượng thịt, trứng…rất lớn cho nhu cầu của con người. Ngoài ra có còn cung cấp một lượng phân bón lớn cho ngành trồng trọt. Trong chăn nuôi thức ăn chiếm trên 70% giá thành sản phẩm, do vậy nghiên cứu về thức ăn chăn nuôi luôn được các nhà khoa học quan tâm.
Việc sử dụng nguồn thức ăn xanh dễ trồng, năng suất cao, chi phí thấp cho gia súc ở dạng tươi hoặc bột lá là một hướng đi đúng và cấp thiết. Nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước, đã nghiên cứu và kết luận rằng vật nuôi được ăn khẩu phần có bột lá thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn so với khẩu phần không có bột lá. Ngoài ra các sản phẩm còn có chất lượng tốt hơn: thịt, trứng thơm ngon hơn và có màu sắc hấp dẫn. Bột lá ngoài cung cấp đạm, xơ còn cung cấp các kích tố tự nhiên, vitamin và sắc tố.
Việc lợi dụng kháng sinh, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo màu thực phẩm đã ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ra tác hại khôn lường. Do vậy việc sử dụng nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc thực vật vừa nâng cao hiệu quả chăn nuôi, lại vừa tạo ra sản phẩm sạch. Lá sắn rất giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein. Ngoài ra còn chứa một lượng đáng kể carotenoid, có tác dụng làm tăng độ đạm màu lòng đỏ trứng gà.
Lá sắn dễ làm khô, dễ bảo quản. Nghiên cứu sử dụng ngọn non, lá sắn chế biến thành bột lá bổ sung vào thức ăn hỗn hợp là hướng đi có triển vọng tốt, tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm chi phí sản xuất thức ăn. Nếu trồng sắn chuyên lấy lá sẽ thúc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 đẩy ngành trồng trọt chế biến thức ăn chăn nuôi tại chỗ, bảo đảm an toàn thực phẩm, do tránh được tác động xấu của các chất tổng hợp hóa học. Tuy có khá nhiều nghiên cứu về sử dụng lá sắn làm thức ăn chăn nuôi nhưng có rất ít các nghiên cứu về xác định tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và năng lượng trao đổi trong bột lá.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Xác định tỉ lệ tiêu hóa và năng lượng trao đổi của sắn thu lá đối với gà thịt”. Mục đích của đề tài - Xác định tỉ lệ tiêu hóa và năng lượng trao đổi để làm cơ sở cho việc phối trộn bột lá sắn vào khẩu phần cho gia cầm được chính xác. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Có thêm thông tin mới về tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và năng lượng trao đổi của bột lá sắn trên gà thịt.
Ý nghĩa thực tiễn Xác định được năng lượng trao đổi sẽ giúp cho phối hợp khẩu phần ăn cho gà chính xác hơn, từ đó cho kết quả chăn nuôi tốt hơn. Điểm mới của đề tài Hiện nay, tại Việt Nam hầu như chưa có nghiên cứu nào xác định tỉ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng và xác định năng lượng trao đổi của bột lá sắn. Vì vậy, xác định tỷ lệ tiêu hóa và năng lượng trao đổi của bột lá sắn là điểm mới của đề tài này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu về cây sắn Cây sắn có tên khoa học là: Manihot Esculenta Crantz. Thuộc giới: Plantae. Phân họ: Crtonoideae. Tông: Manihoteae, Chi: Manihot.
Ngoài ra, ở một số nước cây sắn còn được gọi với các tên khác nhau như: Casava, Manioc, Tapioca Plant, Manlioke, Maniva Cassave,Yeueca Brava… tại Việt Nam cây sắn còn được gọi là: cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu… Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng có sản lượng đứng thứ ba sau lúa và ngô, trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Năm 2011, diện tích sắn cả nước đạt 560 ngàn ha, năng suất bình quân 17,63 tấn/ha; sản lượng 9,87 triệu tấn (Tổng cục Thống kê, 2013a) [34]. Xuất khẩu sắn, các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đứng thứ hai thế giới chỉ sau Thái Lan và có mặt ở các quốc gia trong khu vực châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Myanmar, Nhật Bản… Trong quá trình trồng thích nghi, cây sắn đã phát triển, hình thành nhiều giống sắn địa phương cho năng suất, chất lượng khác nhau phù hợp điều kiện khí hậu của từng vùng. Hiện có khoảng trên 30 giống sắn đang được trồng phổ biến ở các vùng khác nhau trong cả nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 * Đặc điểm thực vật học của cây sắn. Cây sắn cao 2 – 3m, lá khía thành nhiều thùy, rễ ngang phát triển thành củ và tích luỹ tinh bột, thời gian sinh trưởng 6 đến 12 tháng có nơi tới 18 tháng, tùy giống, vụ trồng, địa bàn trồng và mục đích sử dụng. Sắn là cây trồng có khả năng chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt như: đất nghèo dinh dưỡng, đất chua, đất khô hạn, đất có hàm lượng nhôm, mangan cao mà những cây trồng khác khó có thể sinh trưởng và cho thu hoạch. Củ sắn: Là nơi dự trữ dinh dưỡng chính của cây sắn.
Khi trồng bằng hạt thì cây sắn có 1 rễ cọc phát triển và cắm thẳng đứng xuống đất như cây 2 lá mầm và các rễ phụ lúc đầu phát triển ngang, sau đó phát triển theo phương thẳng đứng thành rễ cái. Sắn trồng bằng hom thì rễ phụ mọc ra từ vết cắt của hom và phát triển. Tất cả các loại rễ này đều phát triển thành củ sắn (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [29]. Thân sắn: Là loại cây thân gỗ, hình trụ, có chia đốt và có lóng, sinh trưởng lâu năm, cây cao từ 1− 5m.
Thân và cành già đã hóa gỗ có màu trắng bạc, xám, nâu hoặc hơi vàng. Lá sắn: Là loại lá đơn mọc xen kẽ, thẳng hàng trên thân cây. Lá gồm 2 phần: cuống và phiến lá. Lá có thùy sâu, dạng chân vịt, thùy thường có cấu tạo số lẻ từ 5 − 7 thùy ( Trần Ngọc Ngoạn, 2007 [29]).
Lá gần cụm hoa có số thùy giảm dần và thậm chí không chia thùy, lá phía trên thường có biểu bì bóng như sáp. Cuống lá dài từ 5 – 30cm (một số giống cuống dài 40cm) và có các màu sắc khác nhau, phụ thuộc vào giống sắn và chủ yếu là màu hồng, xanh vàng, đỏ tươi. Lá sắn trong nguyên liệu khô 100% chứa đựng đường + tinh bột 24,2%; protein 24%; chất béo 6%, xơ 11%; chất khoáng 6,7%; xanhthophylles 350 ppm. Chất đạm của lá sắn có khá đầy đủ các acid amin cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Phạm Sỹ Tiệp (1999) [37] thì một trong những đặc điểm của cây sắn khác với cây ngũ cốc khác là sản phẩm quang hợp được chia cho sự phát triển của cả lá và củ. Điều này cho thấy nếu cây có điều kiện để phát triển diện tích lá tối ưu thì sự phát triển củ cũng đạt đến mức tối ưu. Hoa sắn: Hoa thuộc loại hoa chum, đơn tính có cuống dài mọc ra từ chỗ phân cành, ngọn thân. Quả sắn: Có kích thước từ 1 − 1,5cm, 1 quả thường có 3 hạt.
Màu quả phụ thuộc vào giống. * Năng suất chất xanh. Năng suất chất xanh là toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên một đơn vị diện tích. Hiện tại, sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và là nguồn thực phẩm của hơn 500 triệu người.
Năm 2006 và 2007, sản lượng sắn thế giới đạt 226,34 triệu tấn củ tươi so với 06/2005 là 211,26 triệu tấn, năm 1961 là 71,26 triệu tấn. Nước có sản lượng sắn nhiều nhất là: Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn). Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,16 tấn/ha. Việt Nam đứng thứ 10 về sản lượng sắn (7,71 triệu tấn) trên thế giới.
Tại Việt Nam, sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của tám vùng sinh thái. Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Gần đây, chương trình “Sắn Việt Nam” đang khảo nghiệm rộng các giống sắn mới triển vọng. Tại các tỉnh phía Nam, giống sắn tốt tiêu biểu được nông dân chấp nhận và đang phát triển rộng trong sản xuất là: KM419, , cây.
Nhìn chung, năng suất chất xanh của sắn thu lá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ pH và độ phì của đất, lượng mưa, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện chăm sóc, quản lý mùa vụ, tuổi thu hoạch.và các đặc tính riêng của từng loài, giống sắn. Thời vụ trồng thích hợp là rất quan trọng đối với cây sắn. Sắn là cây trồng của vùng nhiệt đới ẩm, cần ánh sáng ngày ngắn để tạo củ. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho sắn từ 23 − 270C.
Lượng mưa trung bình năm thích hợp đối với sắn trong khoảng 1000 − 2000mm. Thời vụ trồng sắn tùy thuộc nông lịch cụ thể của từng địa phương. Các giống sắn công nghiệp trồng để lấy bột thường thu hoạch 8 − 12 tháng sau trồng. Các giống sắn ngọt trồng để ăn tươi thì có thể thu hoạch rải rác từ 6 − 9 tháng.
Vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng đất núi Đồng bằng Sông Cửu Long, sắn được trồng vụ chính (70%) từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 và vụ phụ (30%) từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11. Vùng ven biển miền Trung, sắn được trồng từ tháng 1 đến tháng 2 trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao và có mưa ẩm, thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 để tránh bão lụt gây đổ ngã và ảnh hưởng đến chất lượng lá sắn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng Đồng bằng sông Hồng, sắn trồng tốt nhất là trong tháng 2 vì lúc này có mưa xuân ẩm, trời bắt đầu ấm, thích hợp cho cây sinh trưởng, hình thành và phát triển củ. Sắn trồng muộn vào tháng 4, trời đã nóng, cây sinh trưởng mạnh.
Khoảng cách và mật độ trồng sắn tuỳ theo đất nếu đất tốt thì trồng thưa, đất xấu trồng dày, sắn cây cao to trồng thưa, sắn cây thấp gọn trồng dày, đất xấu cần đầu tư nhiều phân hơn so với đất tốt.