Mở đầu Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị m 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Về cơ sở lý luận 2. Khái niệm cộng đồng Cộng đồng là khái niệm về tổ chức xã hội được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra trong các công trình khoa học với nhiều định nghĩa khác nhau. Theo từ điển bách khoa Việt Nam, cộng đồng được hiểu là một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm cư trú.
Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một dân tộc, một sắc tộc. [23] Theo Bùi Hải Yến trong cuốn DLCĐ, cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như: làng, xã,… có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế.TS Phạm Trung Lương, cộng đồng những người sống chung trong một thôn xóm, làng, xã, quốc gia,… họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất sinh sống gọi là cộng đồng thể. Cộng đồng những người không sống chung nhưng lại có những sở thích, nhu cầu chung được coi là cộng đồng tính. [20] Tùy theo từng góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi tác giả lại có một định nghĩa khác nhau về cộng đồng, nhưng nói tóm lại cộng đồng được hình thành bởi ba nhân tố chính là yếu tố kinh tế, văn hoá và khu vực lưu trú.
Bản chất và phân loại cộng đồng * Bản chất của cộng đồng được nhìn nhận qua ba phương diện sau: - Đoàn kết xã hội: Đoàn kết xã hội là đặc tính đứng đầu của cộng đồng được quan niệm như một ý chí và tình cảm chung do quá trình cùng chung sống có những mối quan hệ về mặt huyết tộc hay quan hệ láng giềng. m 4 - Tương quan xã hội: Cộng đồng được coi như một tiến trình xã hội, là một hình thức tương quan giữa người với người có tính cách kết hợp, theo đó con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn. - Cơ cấu xã hội: Cộng đồng được coi như một cơ cấu xã hội, là một đoàn thể con người có những giá trị, chuẩn mực, các khuôn mẫu với các tương quan xã hội và vai trò được tổ chức thành cơ cấu. Điều này phù hợp với định nghĩa tổng quát về một đoàn thể xã hội coi như một tập thể con người có tương quan hỗ trợ với nhau.
Không có giá trị chung nghĩa là không có một số định hướng để quy tụ với nhau thậm chí có nơi lại không có cả những quy tắc ứng xử quy định các hành vi ứng xử của các thành viên trong cộng đồng thì không có cơ sở cho sự hình thành và phát cộng đồng. [15] * Phân loại cộng đồng: - Cộng đồng địa lý: Bao gồm những người dân cư trú trong cùng một địa bàn có thể có chung các đặc điểm văn hóa xã hội và có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Ví dụ: Cộng đồng người Thái ở Mường Lò, Cộng đồng người Tày ở Ba Bể, cộng đồng người Ê Đê ở Tây Nguyên,… - Cộng đồng chức năng: Gồm những cá thể có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có chung lợi ích. Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức.
Ví dụ: Cộng đồng kinh tế Châu Âu, cộng đồng du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản,… 2. Dân tộc thiểu số 2. Khái niệm dân tộc thiểu số DTTS là khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến hiện nay với nhiều định nghĩa khác nhau Theo đại từ điển tiếng Việt, DTTS là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế xã hội. [26] m 5 Theo nghị định 05/2011/NĐ của chính phủ về công tác dân tộc thì khái niệm DTTS được định nghĩa như sau, DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
[5] Ở nước ta, DTTS được xác định là những người có quốc tịch, sinh sống tại nước ta nhưng có những khác biệt nhất định về ngôn ngữ, phong tục tập quán và các đặc thù văn hoá với dân tộc kinh. Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở nước ta - Về đoàn kết dân tộc: Các DTTS ở nước ta đã cùng nhau trải qua quá trình lịch sử và quá trình đấu tranh để bảo vệ bờ cõi, xây dựng đất nước thống nhất, mặc dù có nhiều dân tộc và chênh lệch về số lượng trên cùng một lãnh thổ quốc gia, mỗi dân tộc có điều kiện sống, phong tục tập quán riêng biệt nhưng các dân tộc nước ta đều có chung truyền thống đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau. - Về bản sắc văn hoá: Các DTTS ở nước ta đều có những nét riêng biệt về văn hoá, tạo nên sự đa dạng phong phú về văn hoá cho đất nước, mỗi DTTS ở nước ta đều có ngôn ngữ riêng, có nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng thể hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày thông qua các lễ hội, trang phục của từng dân tộc. - Về địa bàn cư chú: các DTTS ở nước ta phân bố không đồng đều, tập trung ở một số vùng nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác.
Chính sự xen kẽ giữa các dân tộc đã tạo điều kiện để các dân tộc có điều kiện tăng cường sự hiểu biết, gắn bó với nhau nhờ đó mà các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc. Du lịch cộng đồng 2. Khái niệm du lịch cộng đồng Cộng đồng có mối quan hệ mật thiết trong vấn đề sử dụng và khai thác TNDL đặc biệt là loại hình TNDL văn hóa. Vì vậy khi xem xét và phân tích các giá trị, các khả năng có thể xây dựng và hình thành sản phẩm du lịch không thể không nhìn nhận vai trò và chức năng của cộng đồng địa phương.
m 6 Hiện nay, khi xem xét hệ thống lý thuyết về phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng, trong giới hạn đề tài này tập trung làm rõ hai thuật ngữ có liên quan như sau: Bảng 2.1: Thuật ngữ liên quan đến du lịch có sự tham gia của cộng đồng Thuật ngữ tiếng Anh Thuật ngữ tiếng Việt Community - Based Tourism Du lịch dựa vào cộng đồng Community – Participation in Tourism Du lịch có sự tham gia của cộng đồng Nguồn: Võ Quế, 2006 - Tại Thái Lan thuật ngữ Community - Based Tourism – Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa như sau: “Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là loại hình du lịch được quản lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội. Thông qua DLCĐ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương”. Thuật ngữ này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của các tổ chức xã hội trên thế giới như: - Tổ chức Pachamana (hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về Community - Based Tourism như sau: “DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương. Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương”.
- Tổ chức Istituto Oikos (1996) ra đời tại Ý (tổ chức hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên và văn hóa cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, tổ chức này có tầm ảnh hưởng ở khu vực Châu Âu) đã đề cập đến nội dung của DLCĐ như sau: “DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và có lưu trú qua đêm tại m 7 không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ở nông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn). Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trường thiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôn trọng tư duy văn hóa bản địa. Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng các lợi ích kinh tế từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị về tự nhiên và văn hóa xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống”. - Tổ chức mạng lưới DLBV vì người nghèo đã nêu “DLCĐ là một loại hình DLBV thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng.
Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng. Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên.” - Tại Việt Nam, DLCĐ được nhìn nhận như sau: “DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” (Trần Thị Mai, 2005) [24] “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên.” (Võ Quế, 2006) [25] “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi HĐDL.