Chương I: Cơ sở lý luận về đô thị sinh thái Chương II: Đánh giá thực trạng phát triển đô thị Hà Nội Chương III: Tiềm năng phát triển đô thị sinh thái tại Hà Nội Sinh viên thực hiện: Vii Thi Bích Ngọc 3 Chuyên dé thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Hoài Thu CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐÔ THỊ SINH THÁI 1. Khai quát chung về đô thị sinh thái 1. Khái niệm đô thị sinh thái “Eco” viết tắt của từ sinh thái trong cụm từ đô thị sinh thái “Ecocity”, vốn đọc chệch từ “Oikos” của tiếng Hy lap cé nghĩa là “gia đình” (“hộ gia đình”) trong đó mọi người cùng làm việc để tạo ra một đơn vị chức năng nào đó.
Tương tự như vậy, các đô thị sinh thai“ecocities” muốn nhấn mạnh mối quan hệ lành mạnh giữa các phần của thành phố với chức năng của chúng hơn là đơn thuần nói đến hàng loạt các chỉ số đo độ xanh, sạch đẹp của đô thị. Đối với đô thị sinh thái, “gần gũi” là điều có ý nghĩa quyết định. Nếu như có một chỉ số đơn lẻ để xác định đô thị sinh thái, đó chính là khả năng dân cư có thé và ưa thích việc tiếp cận hầu hết dịch vụ cơ bản bằng cách đi bộ, đi xe đạp và vận chuyền băng các phương tiện giao thông công cộng. Theo định nghĩa của Tổ chức Sinh thái đô thị của Úc thì “Một thành phỗ sinh thái là thành phố đảm bảo sự cân băng với thiên nhiên”, hay cụ thé hơn là sự định cư cho phép các cư dân sinh sống trong điều kiện chất lượng cuộc sống nhưng sử dụng tối thiểu các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Theo quan điểm cua Richard Register về các thành phô sinh thái bền vững, thì đó là các đô thị mật độ thấp, dan trải, được chuyên đổi thành mạng lưới các khu dân cư đô thị mật độ cao hoặc trung bình có quy mô giới hạn được phân cách bởi các không gian xanh. Hầu hết mọi người sinh sống và làm việc trong phạm vi khoảng cách đi bộ và đi xe đạp.TS Pham Ngoc Đăng: Một đô thị sinh thai là một đô thị mà trong quá trình tồn tại và phát triển của nó không là tôn hại đến tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái đến môi trường, không gây tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và tạo điều kiện thuận lợi cho mội người sống, sinh hoạt và làm việc trong đô thị. Như vậy, đô thị sinh thái phải là một thành phố được thiết kế, quy hoạch và xây dựng có tính đến các tác động tới môi trường, nơi người dân có ý thức để giảm thiểu việc sử dụng năng lượng, nước, thực phẩm cũng như giảm thiêu các chất thải. Ngoài ra, đô thị sinh thái còn phải đáp ứng truyền thống nhân văn bản địa, nhu cầu giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng, thư giãn cá nhân và gia đình trong một không gian gân gũi với thiên nhiên.
Sinh viên thực hiện: Vii Thi Bích Ngọc 4 Chuyên dé thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Hoài Thu 1. Lịch sử ra đời Ý tưởng về đô thị sinh thái có nguồn gốc từ những năm 80 của thé kỷ XX và đã được công bố công khai lần đầu tiên bởi các học giả Đức, nó liên quan trực tiếp đến các cuộc tranh cãi về trách nhiệm đối với hệ sinh thái vốn đã được đưa ra từ những năm 60. Các khái niệm đô thị sinh thái đầu tiên được tập trung vao sự trao đổi về những hoạt động diễn ra trong đô thị (vòng tròn năng lượng, nước, chất thải, khí thai.
Trong vài năm qua, phong trào xây dựng các đô thị sinh thái, thành phố trong sự cân bằng với thiên nhiên đã phát triển trên toàn thế giới. Khai sinh ra phong trào Ecocity là Richard Register, một chuyên gia thiết kế đô thị được quốc tế công nhận.Ông đã thành lập Khoa Đô thị sinh thái ở Berkeley (Mỹ) vào năm 1975, và đã cố gang tổ chức một số hội nghị địa phương dé biến đổi Berkeley dé thành một Ecocity.Nhóm Sinh thái học đô thị sau này được chuyên thành Ecocity Builders, một t6 chức phi chính phủ gắn trách nhiệm môi trường với phát triển đô thị thông qua giáo dục cộng đồng và tư vấn với các chính phủ và các nhà quy hoạch. Phương châm của nhóm là "để xây dựng lại nền văn minh của chúng ta trong sự cân bằng với thiên nhiên". Năm 1990, Những gi do Register và The Ecocity Builders khởi xướng đã trở thành một thành phần quan trọng của phong trào Ecocity; Hội nghị Ecocity quốc tế, đã được tô chức hai năm một lần sau đó, trên năm châu lục khác nhau.Thang 8 năm 2002, hội nghị được tô chức tại Thâm Quyền, một đô thị vườn của Trung Quéc.Ké từ năm 1990, hội nghị đã trở thành một trong những diễn đàn quan trọng nhất về phát triển bền vững.
Các nguyên tắc của phong trào Ecocity khá đơn giản: mọi người có thé sống, làm việc, mua sắm tại các cửa hàng, vui chơi trong một khoảng cách gần và giao thông là thứ mà người dân cần sử dụng khi họ đang ở chỗ mà họ không muốn ở. Lua chọn giao thông đầu tiên trong ecocity phải là đi bộ, xe đạp là thứ hai, thứ ba là phương tiện giao thông công cộng, và cuối cùng mới đến các xe ô tô. Nguyên tắc cơ bản xây dựng đô thị sinh thái Các nguyên tắc xây dựng đô thị sinh thái đã được nhiều nhà nghiên cứu, học giả trong và ngoài nước đề cập đến. Mặc dù có những khác biệt nhất định tuy nhiên cách tiếp cận về cơ bản là giống nhau với 4 nguyên tác cơ bản sau: > Xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên > Trong điều kiện cụ thể cố giữ cho đô thị khép kín và tự cân bằng Sinh viên thực hiện: Vii Thi Bích Ngọc 5 Chuyên dé thực tập GVHD: TS.
Vũ Thị Hoài Thu > Đa dạng hoa nhất việc sử dụng đất, chức năng đô thị và các hoạt động khác cua con người. > Giữ cho sự phát triển dân số đô thị và tiềm năng môi trường được cân bằng một cách tối ưu. Bên cạnh đó theo GS.TSKH Lê Huy Bá, các nguyên tắc dé xây dựng đô thị sinh thái là: - Đô thị là một hệ sinh thái với đầy đủ các đặc tính, cấu trúc và chức năng sinh thái của nó. - Tiếp cận xây dựng đô thị sinh thái trên cơ sở cấu trúc, chức năng môi truowngfvaf các tương tác trong thành phần trong hệsinh thái đô thị.
- Sự tương tác hay mỗi quan hệ giữa các sinh vật và môi trường trong hệ sinh thái là cộng sinh. - Hoạt động của con người gây xâm hại ít đến môi trường. - Đa dạng hóa sử dụng đất, chức năng đô thị cũng nhuwhoatj động của con người trong đô thị. - Trong điều kiện cụ thể,giữ cho hệ sinh thai đô thị được khép kín va tự bằng.
- Giữ cho phát triển đô thị và tiềm năng của môi trường,tài nguyên được cân bằng tối ưu. Tổ chức Sinh thái đô thị (Urban Ecology), hiện hoạt động trên 20 năm đã đưa ra 10 nguyên tắc trong xây dựng đô thị sinh thái: 1) Ưu tiên về sử dụng đất dé tao ra những cộng đồng phức hợp, mật độ nén, đa dạng, xanh, an toàn, vui tươi sống động, gần các nút giao thông, 2) Ưu tiên về giao thông theo hướng khuyến khích đi bộ, xe đạp, giao thông công cộng và nhân mạnh “hướng tiếp cận bằng sự lân cận”. 3) Phục hồi những môi trường đô thị bị phá hoại, đặc biệt là các vùng trũng thấp, đường bờ biên, dãy đồi vá các vùng đất ngập nước. 4) Tạo những khu nhà ở hỗn hợp đáp ứng nhu cầu sống với giá phù hợp, an toàn, tiện lợi và kinh tế.
5) Ủng hộ công bang xã hội va tao ra co hội cho phụ nữ, người da mau va người khuyết tật. 6) Hỗ trợ nông nghiệp địa phương, những dự án xanh hóa đô thị va vườn công cộng, 7) Khuyến khích tái sinh tái chế, các công nghệ tiên tiến và bảo vệ tài nguyên trong khi vẫn giảm thiêu ô nhiễm môi trường. Sinh viên thực hiện: Vii Thi Bích Ngọc 6 Chuyên dé thực tập GVHD: TS. Vũ Thị Hoài Thu 8) Làm việc với các doanh nghiệp dé hồ trợ các hoạt động kinh tế thân thiện với môi trường, hạn chế ô nhiễm, chất thải và việc sử dụng hoặc sản xuất vật chất nguy hại.
9) Khuyến khích sự tự nguyện hạn chế việc sản xuất dư thừa. 10) Tăng cường nhận thức về môi trường thông qua các nhà hoạt động và các dự án giáo dục tăng cường nhận thức cộng đồng về những vấn đề liên quan đếnTrên cơ sở phân tích các khía cạnh, đặc trưng cần có của một đô thị sinh thái.Tiêu chí chung của đô thị sinh thái Tiêu chuẩn quốc tế về đô thị sinh thai (International Ecocity Standard — YES) được tập hợp từ nhóm các nhà xây dựng đô thị sinh thái (Ecocity Builders), tập hợp các thành viên của các tô chức từ khắp nới trên thế giới. IES đánh giá hiện trạng và quá trình phát triển mới của các đô thị trong việc hướng tới dé trở thành đô thị sinh thai.IES đánh giá mức độ đạt được trên các quy mô khác nhau từ các khu vực nhỏ đến toàn bộ vùng, dựa trên nguyên tắc của các hệ thống và các thiết kế sức khỏe sinh thái. Các tiêu chí xem xét đánh giá đô thị sinh thái, theo IES, bao gồm các nhóm: Về kiến trúc, các công trình trong ĐTST phải đảm bảo khai thác tối đa các nguồn năng lượng mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng va đáp ứng nhu cầu nước của người sử dụng.Thông thường các công trình là nhà cao tầng còn mặt đất dé dành cho không gian xanh.
Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên dé nghỉ ngơi giải trí. Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng hóa chủ yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận. Phần lớn dân cư đô thị sẽ sống và làm việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp dé giam thiéu nhu cầu di chuyên cơ giới. Sử dung các phương tiện giao thông công cộng nối liền các trung tâm dé phục vụ nhu cầu di chuyên xa hơn của người dân.Chia sẻ ô tô con địa phương cho phép mọi người chỉ sử dụng khi cần thiết.
Công nghiệp của DTST sẽ sản xuất ra các sản pham hang hóa có thé tái sử dụng, tái sản xuất và tái sinh.Các quy trình công nghiệp bao gồm cả việc tái sử dụng các sản phâm phụ và giảm thiêu sự vận chuyên hàng hóa.