Chương 1. Cơ sở lý luận của lý thuyết “Bộ ba bắt khả thi” tệ đó, hiệu ứng tiếp theo là đường LM sẽ chuyên dịch sang phải thành LM'”. Trạng thái cân bằng mới được thiết lập tại điểm B là giao điểm của ba đường IS°, LM' và BP. Nền kinh tế tại điểm B vừa đạt được sự tăng trưởng sản lượng (tức là trạng thải cân bằng đối nội) vừa đạt được cân bằng đối ngoại.
Điều này đưa đến kết luận rằng: dưới chế độ tỷ giá cố định nếu NHTW không sử dụng kèm nghiệp vụ trung hòa thì chính sách tài khóa mớ rộng có hiệu quả cao hơn chính sách tiền tệ mở rộng trong mục tiêu gia tăng sản lượng cho nên kinh tế mà vẫn duy trì được trạng thái cân bằng cán cân thanh toán. Những hiệu ứng của chính sách tiền tệ và tài khóa đưới chế độ tỷ giá linh hoạt Trước khi phân tích hiệu quả của chính sách tài khóa và tiền tệ trong chế độ tý giá linh hoạt, thì chúng ta sẽ làm rõ tác động của sự thay đôi tỷ giá đến sự dịch chuyển của các đường IS, LM và BP.3 đã trình bày, với các yếu tố khác là không đổi và điều kiện Marshall-Lerner được duy trì (tức là giá trị tuyệt đối của tổng độ co dãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1), thì khi tỷ giá thực tăng, nội tệ mất giá tương đối so với ngoại tệ thì sẽ làm cho xuất khẩu Xạ tăng và thiên hướng nhập khẩu biên m; giảm. Do xuất khẩu Xọ tăng và thiên hướng nhập khẩu biên mị giảm, nên làm cho Y tăng (phương trình 1.2 và phương trình 1. Ở mức lãi suất nhất định, thì khi Y tăng làm cho đường BP và đường IS dịch chuyển sang phải.
Như vậy, khi tỷ giá tăng thì sẽ làm cho xuất khẩu ròng tăng và hệ quả là đường BP và đường IS dịch chuyển sang phải, ngược lại tỷ giá giảm thì đường BP và đường IS dịch chuyên sang trái. Dưới chế độ tỷ giá cố định thì khi cán cân thanh toán thặng dư hay thâm hụt sẽ dẫn đến sự tăng hay giảm cung tiền nội tệ để duy trì tỷ giá cô định, mà việc tăng hay giảm cung tiền nội tệ sẽ làm địch chuyên đường LM. Tuy nhiên, dưới chế độ tỷ giá linh hoạt thì khi cán cân thanh toán thặng dư hay thâm hụt thì ngay sau đó tỷ giá sẽ giảm hay tăng một cách linh hoạt mà không cần thay đổi cung tiền nội tệ để neo giữ tý giá nữa, vì thế dưới chế độ tỷ giá linh hoạt thì đường BP và đường IS dịch chuyên nhiều hơn so với đường LM. Trang 17 Chương I.
Cơ sở lý luận của lý thuyết “Bộ ba bắt khả thi” Những tác động của chính sách tiền tệ mở rộng dưới chế độ tỷ giá linh hoạt được thể hiện trong đồ thị 1. Bắt đầu tại A là giao điểm của các đường IS, LM và BP và giả sử chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng từ LM sang LM'. Kết quả là, nền kinh tế di chuyên từ A đến H (giao điểm của IS và LM'), cán cân thanh toán là thâm hụt. Tại H, có một sự gia tăng trong cầu ngoại tệ.
Dưới chế độ tỷ giá linh hoạt, điều này sẽ làm cho tỷ giá tăng đồng nghĩa với nội tệ bị mất giá dẫn đến xuất khâu ròng tăng, hiệu ứng tiếp theo là sự chuyển dịch sang phải của BP (tir BP dén BP’) và IS (từ IS đến IS’) vi thé trang thái cân bằng mới được thiết lập ở điểm B là giao điểm của ba duong IS’, LM’ va BP’. Tại B thì có mức sản lượng cân bằng mới là Y; cao hon Y; tai A, day 1a vị cân bằng dài hạn. Nền kinh tế đạt được đồng thời hai mục tiêu cân bằng đối nội và đối ngoại. Chính sách tiền tệ mở rộng dưới chế độ tỷ giá linh hoạt.
Lãi suất + LM (r) ry Ld encesecedecceventeteceesenene 5 Y, Y, : > Thu nhapap (Y (Y) Nguôn: International Macroeconomy (http://homepage.edu/het/essays/ keynes/international. Như vậy, dưới chế độ tỷ giá linh hoạt, chính sách tiên tệ là khá hiệu quả trong việc gia tăng sản lượng mà vẫn duy trì được cán cân thanh toán cân bằng, để nên kinh tế đạt được đồng thời trạng thái cân bằng đối nội và cân bằng đối ngoại. Ngược lại, sự hiệu quả của chính sách tài khóa dưới chế độ tý giá linh hoạt là không rõ ràng.8, bắt đầu từ điểm A, giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm cho đường IS dịch chuyên đến IS”, nền kinh tế đi chuyên từ điểm A đến điểm D (giao điểm của LM và IS”). Tuy nhiên, tại điểm D, cán cân thanh toán là thặng dư vì nó năm bên trái đường BP, do đó làm cho tỷ giá giảm và hiệu ứng tiếp theo là BP dịch chuyển sang trái dén BP’ va IS’ dich Trang 18 Chương 1.
Cơ sở lý luận của lý thuyết “Bộ ba bất kha thi” chuyên ngược trở lại bên trái về IS?°. Một trạng thái cân bằng mới đạt được tại K là giao điểm của IS°°, LM và BP°, sản lượng tăng được một thời gian ngắn thì lại giảm. Rõ ràng, trong điều kiện tương đối, một chính sách tài khóa mở rộng đưới chế độ tỷ giá linh hoạt là kém hiệu quả hơn trong việc gia tăng sản lượng so với chế độ tỷ giá cố định. Chính sách tài khóa mở rộng dưới chế độ tỷ giá linh hoạt (LM dốc hon BP).
Lãi suất + (r) ry v, Y * Thu nhập (Y) Neguon: International Macroeconomy (http://homepage.edu/het/essays/ keynes/international. Tuy nhiên cần chú ý, mọi tác động sẽ khác đi trong trường hợp BP dốc hơn so voi LM. Ta quan sát đồ thị 1.9, nếu chính sách tài khóa mở rộng (IS sang phải thanh IS’) dan dén thâm hụt cán cân thanh toán tại điểm M và tỷ giá sẽ tăng do đó đường IS' sẽ dịch chuyên sang phải đến IS'? và BP dịch chuyển sang phải đến BP’. Lic nay, trang thai can bang mới sẽ được thiết lập tại điểm B 1a giao diém của IS”, LM va BP°.
Trong trường hợp này, chính sách tài khóa vẫn có hiệu quả trong việc g1a tăng sản lượng và đảm bảo được cần băng cán cân thanh toán. Như vậy, dưới chế độ tý giá linh hoạt, chính sách tài khóa là khá hiệu quả trong việc g1a tăng sản lượng cho nên kinh tế mà vẫn duy trì cân bằng đối ngoại trong trường hợp đường BP đốc hơn đường LM nhưng lại kém hiệu quả hơn trong trường hợp đường LM dốc hơn đường BP. Trang 19 Chương 1. Cơ sở lý luận của lý thuyết “Bộ ba bắt khả thi” Đồ thị 1.
Chính sách tài khóa mở rộng dưới chế độ tỷ giá linh hoạt (BP dốc hon LM). Lai suat (r) Y; tr * Thu nhập(Y) Nguôn: International Macroeconomy (http://homepage.edu/het/essays/ keynes/international. Thuyết “bộ ba bat kha thi” cia Robert Mundell Từ những hàm ý của mô hình Mundell-Fleming ở trên ta thấy rằng: hiệu quả của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá và mức độ kiểm soát vốn hay mức luân chuyên vốn quốc tế (độ nghiêng của đường BP). Ví dụ, quốc gia nào có sự chuyên dịch đòng vốn tự do và tỷ giá cố định, thì các nhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập.
Bởi vì, một quốc gia có cơ chế tỷ giá cô định và dòng vốn quốc tế luân chuyển tự do thì khi đó không có rủi ro tỷ giá đồng thời lãi suất trong nước sẽ biến động cùng với lãi suất nước ngoài, điều này đồng nghĩa với việc mọi công cụ chính sách tiền tệ nhằm tác động đến lãi suất trong nước là điều không thể, hay nói cách khác chính sách tiền tệ quốc gia đó sẽ mất đi tính độc lập của nó. Từ những nhận định trên, các nhà kinh tế như Krugman (1979) và Frankel (1999) đã mở rộng mô hình Mundell-Fleming thành mô hình “bộ ba bat kha thi”. Giống như trong hình 1.1, Frankel (1999) cho rằng, một quốc gia phải từ bỏ một trong ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, sự ôn định của chính sách tỷ giá, và hội nhập thị trường tài chính.1 là sự minh họa về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi. Mỗi cạnh thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lap, sự ôn định của tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn.
Đôi nghịch với môi cạnh Trang 20 Chương 1. Cơ sở lý luận của lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh: mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn; mục tiêu ỗn định tỷ giá đối ngược với đỉnh tỷ giá thả nổi hoàn toàn; mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ. Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thê đạt được bởi một đỉnh nằm giữa. Ví dụ, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá ồn định dat được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn.
Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Cuối cùng, mục tiêu tỷ giá ỗn định và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh tiền tệ. Hoàn toàn không khả thị để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu. Thuyết “bộ ba bất khả thi” của Robert Mundell.
Kiém soát vôn hoàn toàn Chính sách tiền tệ Tỷ giá ôn định độc lập Luân chuyên dòng vốn gia tăng Tỷ giá thả nỗi Liên minh hoàn toàn ne yan use ae tiền tệ Hội nhập tài chính as Nguồn: Jeffrey A Frankel (1999),“No single currency regime is right for all countries or at all times”, Essays in International Finance (Princeton University), no. Ngoài ra, cũng có thể dùng học thuyết ngang giá lãi suất mà cụ thể hơn là điều kiện ngang giá lãi suất không bảo hiểm (UIP) làm cơ sở lý luận để giải thích cho lý thuyết “bộ ba bất khả thi”. Điều kiện ngang giá lãi suất không bảo hiểm (UIP) cho rằng, nếu chu chuyển vốn quốc tế là hoàn toàn tự do thì chênh lệch mức lãi suất giữa hai quốc gia phản ánh mức độ kỳ vọng của tỷ giá theo công 8 thức: r_—y#*= c_— —=— =AS Trang 2Ï Chương 1.