Luận văn: Tích tụ ruộng đất phát triển nông nghiệp tại huyện Bình Lục, Hà Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp phân tích thực trạng và giải pháp tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất tại huyện Bình Lục, Hà Nam.

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2018

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh tích tụ ruộng đất tại Bình Lục Hà Nam 2018

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Hữu Hiệp (2018) cung cấp một bức tranh chi tiết về quá trình tích tụ ruộng đất tại Bình Lục, Hà Nam. Đây là một hướng đi chiến lược nhằm tái cơ cấu ngành nông nghiệp, vốn đang đối mặt với nhiều thách thức. Sản xuất nông nghiệp tại huyện chủ yếu vẫn dựa trên kinh tế hộ nông dân với quy mô nhỏ, manh mún, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao và tăng trưởng chậm. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, áp dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Quá trình tích tụ ruộng đất tại Bình Lục bắt đầu từ năm 2015, được xem là giải pháp đột phá để giải quyết những rào cản cố hữu. Mục tiêu của nghiên cứu khoa học này là phân tích thực trạng, đánh giá tác động và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai một cách hiệu quả và bền vững. Nghiên cứu tập trung vào các chủ thể tham gia, bao gồm doanh nghiệp nông nghiệp và các hộ nông dân, cũng như vai trò của chính quyền địa phương trong việc định hướng và hỗ trợ. Quá trình này không chỉ là sự thay đổi về quy mô đất đai mà còn là sự chuyển dịch trong tư duy sản xuất, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn liền với thị trường tiêu thụ và chuỗi giá trị nông sản.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của việc tập trung đất đai

Bối cảnh kinh tế - xã hội huyện Bình Lục cho thấy nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo nhưng đang có dấu hiệu chững lại. Tăng trưởng khu vực nông nghiệp luôn thấp hơn tăng trưởng kinh tế chung, một phần lớn do diện tích sản xuất bình quân của hộ nông dân quá nhỏ. Tình trạng đất đai manh mún là rào cản lớn nhất cho việc cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ cao. Theo luận văn, "sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Bình Lục hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào nông hộ với diện tích sản xuất bình quân khá nhỏ, đây là một trong những rào cản cho sự phát triển". Do đó, việc tập trung đất đaidồn điền đổi thửa trở thành một yêu cầu tất yếu để tạo ra những cánh đồng mẫu lớn, thuận lợi cho việc đầu tư và tổ chức lại sản xuất. Mục tiêu không chỉ là tăng sản lượng mà còn hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện đời sống người dân.

1.2. Cơ sở lý luận về tích tụ và quyền sử dụng đất

Về lý luận, tích tụ ruộng đất được hiểu là quá trình làm tăng quy mô đất đai của một đơn vị sản xuất (nông hộ hoặc doanh nghiệp) thông qua các hình thức như thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc góp vốn bằng đất. Quá trình này khác biệt cơ bản so với dồn điền đổi thửa – vốn chỉ là việc sắp xếp lại các thửa ruộng để giảm manh mún mà không làm tăng tổng diện tích. Tích tụ ruộng đất tại Bình Lục diễn ra trong khuôn khổ của Luật Đất đai, với các quy định về hạn điền và hình thức giao dịch. Việc này thúc đẩy hình thành thị trường quyền sử dụng đất, cho phép đất đai trở thành một loại vốn có thể luân chuyển, từ đó tối ưu hóa hiệu quả sử dụng. Quá trình này là nền tảng để chuyển từ nền nông nghiệp nhỏ lẻ sang một nền nông nghiệp hiện đại, chuyên môn hóa.

II. Phân tích thực trạng tích tụ ruộng đất tại huyện Bình Lục

Thực trạng tích tụ ruộng đất tại Bình Lục, Hà Nam cho thấy những kết quả ban đầu đáng khích lệ nhưng cũng bộc lộ nhiều khó khăn. Theo số liệu của luận văn, tính đến hết năm 2017, toàn huyện có 7 doanh nghiệp nông nghiệp đã tích tụ được 114,1 ha, chủ yếu thông qua hình thức thuê đất của nông dân. Bên cạnh đó, có 52 hộ nông dân tự tích tụ để mở rộng sản xuất, chủ yếu cho mục đích trồng trọt (34 hộ) và chăn nuôi (18 hộ). Quá trình này thường bắt đầu từ việc thuê hoặc nhận lại đất từ người thân trong gia đình. Nhờ tích tụ, các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, áp dụng tiêu chuẩn VietGAP đã hình thành, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt so với phương thức canh tác truyền thống. Tuy nhiên, thực trạng sử dụng đất vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề như giá thuê đất cao, thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cho các hợp đồng dài hạn, và khó khăn trong việc giải quyết việc làm nông thôn cho các hộ cho thuê đất là những rào cản lớn. Những hạn chế này đòi hỏi cần có sự can thiệp và điều chỉnh chính sách một cách kịp thời để quá trình tích tụ diễn ra thuận lợi hơn.

2.1. Quy trình và các hình thức tập trung đất đai phổ biến

Quy trình tích tụ ruộng đất tại Bình Lục thường bắt đầu từ chủ trương dồn điền đổi thửa của địa phương. Chính quyền vận động các hộ có nhu cầu cho thuê đất tập trung vào một khu vực, tạo thành quỹ đất sạch đủ lớn để thu hút đầu tư. Các hình thức tích tụ chính được ghi nhận bao gồm: Doanh nghiệp thuê đất trực tiếp của nông dân; Chính quyền đứng ra làm trung gian, thuê đất của dân rồi cho doanh nghiệp thuê lại; và hộ nông dân tự thuê thêm đất của các hộ liền kề. Trong đó, hình thức doanh nghiệp thuê đất là phổ biến nhất. Luận văn chỉ rõ: "Tính đến hết năm 2017 trên địa bàn huyện có 7 doanh nghiệp tích tụ ruộng đất... với hình thức thuê đất của hộ nông dân là chủ yếu với diện tích 106,9ha". Mỗi hình thức đều có ưu và nhược điểm riêng, đòi hỏi sự linh hoạt trong quá trình triển khai để phù hợp với điều kiện thực tế.

2.2. Những thách thức và rào cản trong quá trình thực hiện

Mặc dù có nhiều tiềm năng, quá trình tích tụ ruộng đất tại Bình Lục vẫn đối mặt với không ít thách thức. Rào cản lớn nhất là vấn đề giá thuê đất và thời hạn thuê. Nhiều nông dân vẫn còn tâm lý muốn giữ đất như một hình thức bảo hiểm, do đó e ngại cho thuê dài hạn. Luận văn nêu rõ, hạn chế về "giá thuê, mua đất cao có tới 42,86% hộ và cán bộ trả lời phỏng vấn đánh giá ở mức độ rất khó khăn". Bên cạnh đó, khung pháp lý chưa hoàn thiện, đặc biệt là các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi có tranh chấp đất đai cũng gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và người dân. Ngoài ra, việc thiếu vốn đầu tư ban đầu, thiếu lao động nông nghiệp có trình độ cao và hạ tầng chưa đồng bộ cũng là những yếu tố cản trở sự phát triển của các mô hình nông nghiệp công nghệ cao.

III. Phương pháp thúc đẩy tích tụ ruộng đất tại Bình Lục hiệu quả

Để thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất tại Bình Lục, Hà Nam một cách hiệu quả, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, tác động vào nhiều khía cạnh. Trọng tâm là việc hoàn thiện chính sách đất đai nông nghiệp, tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng và minh bạch. Chính sách cần đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên: người nông dân cho thuê đất, doanh nghiệp đầu tư và nhà nước. Cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp nông nghiệp đầu tư dài hạn thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng. Chính quyền cần chủ động trong công tác quy hoạch vùng sản xuất, làm trung gian hòa giải khi có tranh chấp, và tuyên truyền để người dân hiểu rõ lợi ích của việc tập trung đất đai. Việc đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho lao động nông thôn cũng là một giải pháp then chốt để người dân yên tâm cho thuê đất, góp phần vào sự thành công chung của quá trình tái cơ cấu nông nghiệp tại địa phương.

3.1. Hoàn thiện chính sách đất đai nông nghiệp theo Luật Đất đai

Giải pháp nền tảng là phải hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đất đai. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Đất đai để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tích tụ, tập trung ruộng đất. Cụ thể, cần có quy định rõ ràng về hợp đồng cho thuê đất nông nghiệp dài hạn, cơ chế xác định giá thuê hợp lý và các biện pháp bảo vệ quyền sử dụng đất của người cho thuê. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ nông dân khi thực hiện tích tụ, ví dụ như hỗ trợ chi phí cải tạo đồng ruộng, xây dựng hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng. Đồng thời, cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến chuyển nhượng, cho thuê đất để giảm chi phí giao dịch cho các bên tham gia.

3.2. Nâng cao vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức

Vai trò của chính quyền địa phương là yếu tố quyết định. UBND các cấp cần xây dựng quy hoạch sử dụng đất chi tiết, xác định rõ các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, công nghệ cao. Chính quyền nên đóng vai trò "bà đỡ", kết nối giữa nông dân và doanh nghiệp, đứng ra bảo lãnh cho các hợp đồng thuê đất để tạo sự tin tưởng. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Các tổ chức như Hội Nông dân, Hợp tác xã cần được củng cố để trở thành cầu nối hiệu quả, đại diện cho quyền lợi của nông dân trong các giao dịch đất đai, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

IV. Đánh giá tác động của tích tụ ruộng đất đến kinh tế xã hội

Quá trình tích tụ ruộng đất tại Bình Lục, Hà Nam đã tạo ra những tác động đa chiều đến kinh tế - xã hội huyện Bình Lục. Về mặt tích cực, đây là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Việc hình thành các vùng sản xuất tập trung đã tạo điều kiện cho việc áp dụng cơ giới hóa, công nghệ cao, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Thu nhập của người nông dân được cải thiện thông qua hai nguồn: tiền cho thuê đất và tiền lương nếu làm công nhân cho doanh nghiệp. Quá trình này cũng thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tích tụ đất đai cũng tiềm ẩn một số tác động tiêu cực cần được quan tâm. Đó là nguy cơ phân hóa giàu nghèo, rủi ro mất đất sản xuất của nông dân và các vấn đề xã hội nảy sinh khi một bộ phận lao động nông thôn không tìm được việc làm mới. Việc đánh giá toàn diện các tác động này là cơ sở để xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp, đảm bảo quá trình tích tụ diễn ra một cách hài hòa và bền vững.

4.1. Tác động tích cực Nâng cao thu nhập và hiệu quả sản xuất

Tác động tích cực rõ nét nhất là việc nâng cao hiệu quả kinh tế. Các doanh nghiệp nông nghiệp và hộ sản xuất lớn có điều kiện đầu tư bài bản, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, tạo ra sản phẩm đồng đều về chất lượng và có sản lượng lớn, dễ dàng ký kết hợp đồng tiêu thụ. Điều này giúp cải thiện giá bán và tăng lợi nhuận. Đối với người dân, thu nhập của người nông dân tăng lên. Họ nhận được một khoản tiền thuê đất ổn định hàng năm, đồng thời được giải phóng khỏi công việc đồng áng vất vả và có thể tìm kiếm các công việc phi nông nghiệp khác. Nhiều người còn được doanh nghiệp thuê lại làm công nhân trên chính mảnh đất của mình, đảm bảo việc làm tại chỗ. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết việc làm nông thôn.

4.2. Tác động tiêu cực Rủi ro về sinh kế và tranh chấp đất đai

Bên cạnh lợi ích, tích tụ ruộng đất cũng gây ra những lo ngại về mặt xã hội. Rủi ro lớn nhất là việc người nông dân có thể mất đi tư liệu sản xuất chính, ảnh hưởng đến sinh kế lâu dài nếu không có sự chuẩn bị cho việc chuyển đổi nghề nghiệp. Vấn đề tranh chấp đất đai có thể gia tăng nếu các hợp đồng cho thuê không rõ ràng, minh bạch, hoặc khi doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Sự tập trung đất đai vào tay một số ít doanh nghiệp và hộ giàu có cũng có thể làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng. Do đó, các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm nông nghiệp và đào tạo nghề cần được triển khai song song để giảm thiểu các tác động tiêu cực này, đảm bảo sự phát triển hài hòa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/10/2025
Tích tụ ruộng đất cho phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện bình lục tỉnh hà nam luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu. + Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. + Phần 3: Phương pháp nghiên cứu. + Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.

+ Phần 5: Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2.

Khái niệm về tích tụ đất Theo lý luận về sản xuất tư bản của C.Mác (Chu Văn Cấp và Trần Bình Trọng, 2002), quá trình qui mô tư bản tăng lên được thực hiện bằng hai phương thức là tích tụ tư bản và tập trung tư bản. Hai phương thức này có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau. Tích tụ tư bản là tập trung vốn đủ lớn vào một đơn vị kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau để có thể đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất và quản lý và tận dụng lợi thế kinh tế theo qui mô. Tích tụ ruộng đất có thể coi là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp (Chu Quang Tiến và Lưu Đức Hải, 2009).

Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn. Cạnh tranh và tín dụng là những đòn bẩy mạnh nhất thúc đẩy tập trung tư bản. Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sáp nhập các tư bản cá biệt. Tín dụng tư bản chủ nghĩa là phương tiện để tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào tay các nhà tư bản (Vũ Trọng Khải, 2008).

Tích tụ và tập trung tư bản có điểm giống nhau là chúng đều làm tăng quy mô của tư bản cá biệt. Nhưng giữa chúng lại có những điểm khác nhau. Một là, nguồn để tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, do đó tích tụ tư bản làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, đồng thời kìm tăng quy mô của tư bản xã hội. Còn nguồn để tập trung tư bản là những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội, do đó tập trung tư bản chỉ làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, mà không làm tăng quy mô của tư bản xã hội.

Hai là, nguồn để tích tụ tư bản là giá trị thặng dư xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa tư bản và lao động: nhà tư bản tăng cường bóc lột lao động làm thuê để tăng quy mô của tích tụ tư bản. Còn nguồn để tập trung tư bản là những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội do cạnh tranh mà dẫn đến sự liên kết hay sáp nhập, xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp quan hệ cạnh tranh 5 trong nội bộ giai cấp các nhà tư bản; đồng thời nó cũng tác động đến mối quan hệ giữa tư bản và lao động (Vũ Trọng Khải, 2008). Tích tụ là quá trình tích tụ tư bản với đất đai là tư liệu sản xuất chính để mở rộng sản xuất và phát huy được lợi thế kinh tế theo quy mô. Hoạt động tích tụ ruộng đất được thực hiện trên thị trường đất đai.

Để có đất đai đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư có thể mua quyền sở hữuhay thuê quyền sử dụng đất theo nguyên tắc "thuận mua, vừa bán" hoặc thuê lại đất và trả địa tô cho người cho thuê đất. Như vậy, tích tụ ruộng đất gắn liền trực tiếp tới thị trường đất, khác với dồn điền đổi thửa. Dồn điền đổi thửa chỉ có tác dụng mở rộng qui mô của một thửa đất, và giảm số thửa đất của nông hộ, khiến họ quản lý sản xuất thuận lợi và có hiệu quả cao hơn, mà không làm tăng qui mô ruộng đất của nông hộ (Vũ Trọng Khải, 2008). Tuy nhiên, Lê Đức Thịnh (2008) lại cho rằng tích tụ tích tụ ruộng đất là việc làm tăng tổng diện tích trên một đơn vị sản xuất.

Nhìn chung có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau liên quan đến tích tụ nhưng tất cả đều có những điểm chung là: i) Tích tụ ruộng đất sẽ khắc phục được tình trạng manh mún đất đai khi tăng quy mô diện tích canh tác của hộ gia đình; ii) Hoạt động tích tụ không thể tách rời với thị trường đất đai mà cụ thể bao gồm thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thị trường thuê đất; iii) Tích tụ và tập trung đất cùng với dồn điền đổi thửa đều nhằm mục đích giảm manh mún, nhưng tích tụ ruộng đất gắn trực tiếp đến sự phân tầng về diện tích đất và mức sống ở khu vực nông thôn. Đặc trưng của tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp khác với tích tụ tư bản trong công nghiệp. Do ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được và có giới hạn, mặt khác do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học, vì thế trong khi tích tụ tư bản trong công nghiệp gần như là không giới hạn, hình thành nên những tập đoàn kinh tế ngày một lớn hơn trên phạm vi toàn cầu, tận dụng tối đa lợi thế kinh tế theo quy mô, thì trong nông nghiệp, lợi thế kinh tế theo quy mô bị hạn chế (Vũ Trọng Khải, 2008). Điều kiện để tích tụ ruộng đất chủ yếu liên quan đến hành lang pháp lý và hoạt động của thị trường đất đai.

Hình thức liên kết, hợp tác giữa các chủ thể sở hữu để hình thành nên quy mô canh tác lớn hơn mà không làm thay đổi tình trạng sở hữu không được xem là tích tụ ruộng đất (Vũ Trọng Khải, 2008). 6 Trong đề tài này thì tích tụ ruộng đất được hiểu là sự tăng quy mô ruộng đất của một đơn vị sản xuất (nông hộ) theo thời gian. Theo quy định của luật đất đai 2003 và luật đất đai hiện hành 2013, hạn điền là 3 ha đối với đất trồng cây hàng năm, thì hộ canh tác lúa được coi là có tích tụ ruộng đất nếu có diện tích đất lúa tăng lên đến trên 3 ha ở thời điểm khảo sát hiện tại so với thời điểm khảo sát trước (Vũ Trọng Khải, 2008). Tích tụ ruộng đất ở cấp độ nông hộ bao gồm các hành vi khai hoang, thừa kế, mua, thuê, nhận cầm cố để tạo ra quy mô ruộng đất lớn hơn phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp.

Khái niệm tích tụ ruộng đất cho phát triển nông nghiệp Có nhiều người nhầm tưởng rằng tích tụ và tập trung ruộng đất là hai khái niệm giống nhau nhưng trên thực tế tích tụ và tập trung đất đai là hai khái niệm khác nhau. Ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, cho biết, tích tụ ruộng đất là quá trình mua đất để sở hữu đất đai ở quy mô lớn hơn, còn tập trung ruộng đất là liên kết nhiều mảnh ruộng của nhiều chủ sở hữu khác nhau lại thành mô hình cánh đồng lớn (Trần Vĩnh Huệ, 2008). Phân biệt rõ tích tụ và tập trung đất đai là để có những chính sách phù hợp hơn với từng loại hình tập trung ruộng đất để sản xuất lớn. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho hay, tích tụ hay tập trung thì hệ quả sở hữu đất sẽ khác nhau.

Quan điểm của Trần Đình Thiên là với tích tụ, nhà nước chỉ cần thừa nhận và để nó diễn biến một cách tự nhiên. Còn với tập trung, cần có những chính sách khuyến khích để đẩy nhanh quá trình tập trung đất đai ở các địa phương, đồng thời có những chế tài đảm bảo quyền lợi của DN lẫn nông dân (Trần Vĩnh Huệ, 2008). Còn theo ông Nguyễn Thế Trung, Ủy viên Hội đồng Lý luận TƯ, hiện đang có 4 hình thức tích tụ hay tập trung đất đai là nông dân cho DN thuê đất, nông dân góp vốn với DN bằng mảnh đất của mình, Nhà nước thu hồi đất của nông dân rồi cho DN thuê và nông dân bán đất cho DN. Trong đó, hình thức nông dân cho DN thuê đất được nhiều hộ nông dân ủng hộ nhất, bởi họ vẫn muốn giữ quyền sở hữu mảnh đất của mình.

Khái niệm phát triển sản xuất nông nghiệp Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc 7 trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Hoàng Ngọc Hòa, 2010). Phát triển sản xuất nông nghiệp là sự phát triển ở khu vực nông nghiệp nhằm đảm bảo được cung ứng thực phẩm an toàn và ổn định cho người tiêu dùng, hiệu quả cao đối với người sản xuất và đảm bảo bền vững về mặt môi trường cho xã hội. Phát triển sản xuất nông nghiệp đóng góp vào xây dựng cảnh quan hài hòa với môi trường của của các địa phương. Nhằm khai thác nguồn lực của địa phương hướng đến phát triển bền vững (Hoàng Ngọc Hòa, 2010).

Phát triển sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao và bền vững trước hết cần quản lý được đất giành cho sản xuất nông nghiệp, làm cho năng suất cây trồng, vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích phải ổn định và có xu hướng ngày càng được nâng cao, hiệu quả kinh tế thu được cũng phải nâng cao, nuôi sống được nhiều người và mức thu nhập cũng ngày càng được cải thiện mà không làm hủy hoại môi trường của tự nhiên và của công đồng. Như vậy, cần phải áp dụng các tiến bộ KHKT để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích nhưng không làm ô nhiễm, suy thoái môi trường (Hoàng Ngọc Hòa, 2010). Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đang là bài toán khó để duy trì được tính ổn định của quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Một mét vuông ở vùng thuần nông có thể chỉ tạo ra một đồng, nhưng ở vùng ven đô, nhất là ven Hà Nội thì phải tạo ra gấp nhiều lần mới thu hút được người dân tham gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ