phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc dạy học tích hợp mô đun kỹ thuật xung – số Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn dạy học tích hợp mô đun kỹ thuật xung – số tại trƣờng cao đẳng nghề TP. HCM Chƣơng 3: Dạy học tích hợp mô đun kỹ thuật xung – số tại trƣờng cao đẳng nghề TP. HCM 5 NỘI DUNG ------ Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔ ĐUN KỸ THUẬT XUNG – SỐ 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Việc tiếp cận năng lực của ngƣời học là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm phát triển tiềm năng của mọi ngƣời. Mỹ là một trong những nƣớc sử dụng mô đun sớm nhất trong việc đào tạo công nhân của nƣớc nhà, qua đó thuận tiện cho việc làm trong các dây chuyển ô tô của các hãng General Motor và Ford vào những năm hai mƣơi của thế kỷ 19. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất theo kiểu Taylor (vốn thống trị thời bấy giờ), công nhân đƣợc đào tạo với thời gian 2 - 3 ngày với những trang thiết bị phù hợp với công việc. Ngƣời học đƣợc học với nội dụng vừa đủ, phù hợp với công việc, và đƣợc làm quen với với mục tiêu công việc do chính công ty yêu cầu.
Ở Đức, những nghiên cứu về dạy học dựa trên tâm lý học hành động cũng đã nêu ra những cơ sở về hoạt động học tập mang lại hiệu quả và tính tích cực cho ngƣời học, hoạt động này góp phần hình thành nên ở ngƣời dạy cách thức để hƣớng ngƣời học hoạt động theo con đƣờng đạt đƣợc mục đích chiếm lĩnh tri thức khoa học. Một trong những nghiên cứu này là Handlungsorientierung. Về sao phƣơng pháp này đã đƣợc phát triển rộng rãi ở Anh và một số nƣớc Tây Âu vì tính thực tiễn cao, tiết kiệm thời gian và kinh phí đào tạo. Ở Anh, Lillian Katz and Sylvia Chard (1989) đã thực hiện phƣơng pháp tiếp cận dự án, với mục đích cho trẻ em lựa chọn một chủ đề yêu, nghiên cứu và tìm hiểu nó và cuối cùng là giải quyết các vấn đề và tình huống khó phát sinh.
Todd xuất bản cuốn “Integrated information skills instruction: Does it make a difference” vào năm 1995. Ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tác dụng của giảng dạy tích hợp các kỹ năng thông tin với học sinh 6 trung học Úc. Theo Ông, hƣớng dẫn tích hợp kỹ năng về thông tin có thể ảnh hƣởng đến việc học tập của học sinh và thái độ của họ ở trƣờng học.L xuất bản cuốn “Models of curriculum integration”. Tiến sĩ Loepp là một Giáo sƣ tại Khoa Công nghệ công nghiệp tại Illinois, Đại học Quốc gia, Ông là một thành viên của Gamma Theta.
Xuất bản cuốn “Integrated Curriculum”. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã phát hiện ra rằng một chƣơng trình giảng dạy tích hợp có thể dẫn đến nhiều hơn sự tò mò trí tuệ, cải thiện thái độ, tăng cƣờng giải quyết vấn đề và thành tích cao hơn ở trƣờng. Năm 2007, tác giả Pat Grant và Kathy Paige xuất bản cuốn “Curriculum integration: A trial”. Nhiều nhà giáo dục khác trên thế giới đã viết về chƣơng trình giảng dạy tích hợp nhƣ Beane (1995), Dufficy (2005), George (1996), Lake (2004) và Venville & Dawson (2004).
Tuy nhiên, nghiên cứu kiểm tra tích hợp trong thực tế vẫn còn tƣơng đối hiếm (Hargreaves et al, 1996 đƣợc trích dẫn trong Wallace, Rennie, Malone & Venville, 2000). Xuất bản cuốn “Introducing content and language integrated learning”. Khái niệm về CLIL - Nội dung và ngôn ngữ tích hợp - Học do đó trình bày một lĩnh vực nghiên cứu mới mà các nhà giáo dục quan tâm trong việc tạo ra điều kiện tốt nhất cho hiện tƣợng thế giới hóa. Những thay đổi kinh tế nhanh chóng trên thế giới nhắc nhở chúng ta về sự liên kết của các nƣớc và sự cần thiết giao tiếp qua ngôn ngữ và văn hóa.
UNESCO và ILO là hai tổ chức quốc tế không chỉ tạo điều kiện mà còn khuyến khích cho việc phát triển các nhóm mô đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung. Tại Paris, các chuyên gia cho rằng: sử dụng mô đun “là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tƣợng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kỹ thuật mới” và khuyến cáo các nƣớc đang phát triển khi đầu tƣ tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm đến việc đào tạo trên thế giới không nên “sa đà” vào việc tranh cãi, duy danh thuật ngữ mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm. 7 Từ đào tạo theo mô đun kỹ năng hành nghề (Modules of employable skills - MES) đến đào tạo theo mô đun năng lực thực hiện. Đề cƣơng năm 1973 tổ chức lao động thế giới ILO đã đề xuất phƣơng thức đào tạo theo mô đun (MES = phƣơng thức đào tạo nghề theo công việc / kỹ năng hành nghề) nên bị phê phán là hẹp, thiển cận không đủ đáp ứng về trình độ.
Những yếu tố lý thuyết chỉ dừng ở mức thấp không đủ để đạt trình độ phân tích, hiểu và giải quyết vấn đề do vậy đề cƣơng năm 1992 ra đời tính đến việc đào tạo theo năng lực và trình độ. Tại Việt Nam Từ những thập niên 60, ngành giáo dục Việt Nam mang đậm bản chất của nền giáo dục thê giới cụ thể nhƣ: Tích cực chủ động sáng tạo, lây ngƣời học làm trung tâm, tạo điều kiện cho ngƣời học tƣ duy sáng tạo, nêu và giải quyết vấn đề, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Năm 1986 Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, với sự tài trợ của UNESCO đã tổ chức hội thảo về phƣơng pháp soạn nội dung đào tạo nghề, và đã đề cập đến việc đào tạo nghề theo mô đun ở một số nƣớc đang phát triển trên thế giới. Sau đó, năm 1990 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một cuộc hội thảo với sự tài trợ của ILO nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng phƣơng thức đào tạo nghề theo mô đun (MES) ở Việt Nam. Tháng 5-1992, Trung tâm Phƣơng tiện kĩ thuật dạy nghề (CREDEPRO) cũng đã tổ chức cuộc hội thảo về phƣơng pháp tiếp cận đào tạo nghề MES với tài trợ của UNDP.
Trong thời gian những năm 1987 - 1994, một số Trung tâm dạy nghề, dƣới sự chỉ đạo của Vụ dạy nghề đã thử nghiệm biên soạn tài liệu và đào tạo nghề ngắn hạn theo mô đun. Sau đó thì việc đào tạo nghề theo mô đun MES tạm thòi lắng xuống vì những mặt hạn chế của nó. Khi đề cƣơng của ILO năm l993 báo cáo lại hƣớng tới mô đun năng lực thì tình hình đổi khác. Trong Dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề đã nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng bƣớc đầu những tƣ tƣởng mới của việc đào tạo nghề theo mô đun năng lực thƣc hiện và trình độ.
Tuy cũng đã có vài công trình nghiên cứu khoa học đi sâu nghiên cứu vấn đề dạy học theo hƣớng tích hợp nhƣ đề tài nhƣ: 8 + Năm 1993 GS. Nguyễn Minh Đƣờng đã làm sáng tỏ bản chất, cách tiếp cận và áp dụng mô đun kỹ năng nghề trong đào tạo nghề qua đề tài “Mô đun kỹ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận hướng dẫn biên soạn và áp dụng”. Nguyễn Đức Trí (chủ nhiệm đề tài), cùng tập thể các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu và Phát triển giáo dục đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề”. Qua đó, có thể đánh giá đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng về MKH một cách đầy đủ, hoàn thiện nhất.
Đề tài đã góp phần làm rõ cơ sở khoa học tiếp cận và ứng dụng MKH, góp phần vào việc đổi mới phƣơng pháp dạy học, chƣơng trình trong đào tạo nghề [19] Xu thế dạy học ngày nay nói chung, đặc biệt là lĩnh vực dạy nghề nói riêng, chƣơng trình dạy nghề đƣợc xây dựng dựa trên các mô đun tiếp cận năng lực trong đó tổ hợp các năng lực cần thiết (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà ngƣời lao động cần phải có để tham gia lao động sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp. Chƣơng trình đào tạo đƣợc thiết kế theo mô đun tiếp cận năng lực nhƣ vậy còn đƣợc gọi là giáo dục định hướng kết quả đầu ra. Hiện nay, mô hình năng lực cũng đã bắt đầu nhận đƣợc sự quan tâm và đƣợc sử dụng trong những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực trong xu thế mở cửa hội nhập của đất nƣớc. Xuất phát từ đó nhiều hội thảo lần lƣợt diễn ra nhƣ: Hội thảo về “Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề - kinh nghiệm của Bỉ và Việt Nam” đƣợc tổ chức hồi tháng 8 năm 2009 và các Hội thảo chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học trong lĩnh vực dạy nghề”, “chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề”, ngày 10/7/2009, tại TP.
Đà Nẵng, Dự án VN 101, Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB-XH) - phối hợp với Hiệp hội thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở nƣớc ngoài (APEFE) tổ chức Hội thảo “Tổ chức dạy nghề tích hợp - kinh nghiệm của Bỉ và Việt Nam”. [5] Nhận xét: Tất cả việc nghiên cứu trên đi sâu vào tìm hiểu cơ sở lý luận dạy học tích hợp, thực trạng dạy – học tại các các trƣờng Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề và tiến hành dạy thực nghiệm. Qua đó, góp phần to lớn vào việc mở đƣờng cho việc ứng dụng phƣơng thức đào tạo theo mô đun và tổ chức dạy học theo hƣớng tích hợp 9 ở Việt Nam. Việc nghiên cứu – vận dụng quan điểm dạy học tích hợp đƣợc phát triển mạnh ở giai đoạn sau này.
Vì thế, trong đào tạo nghề nói riêng, giáo dục nghề nghiệp nói chung ở Việt Nam đang còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Tích hợp: Trong tiếng Anh, tích hợp đƣợc viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Theo từ điển tiếng việt tích hợp là “sự hợp nhất, sự hòa nhận, sự kết hợp” [21] Theo từ điển giáo dục học, quan niệm tích hợp đƣợc trình bày nhƣ sau: “ Là hành đồng liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”. Trong đó, kế hoạch giảng dạy là một phạm trù rộng lớn bao gồm từ chƣơng trình đến môn học, bài học.
[21, 383] Tích hợp dọc là „loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”.