phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung được triển khai trong 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều qua các đối thoại Chƣơng 3: Quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều qua độc thoại nội tâm 11 download by : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Diễn ngôn và các mã cơ bản của diễn ngôn trong tiếp cận văn học 1. Khái niệm diễn ngôn “Diễn ngôn” là thuật ngữ mới của lý luận phương Tây, có tính liên ngành, đa nghĩa và đang đóng vai trò nổi bật hiện nay trong ngôn ngữ học và khoa học nhân văn. Thực chất, khái niệm diễn ngôn ra đời từ rất sớm.
Sở dĩ nó mới vì phải cho đến những năm gần đây giới nghiên cứu mới thực sự quan tâm tìm hiểu một cách thấu đáo. Đặc biệt, trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn “diễn ngôn” trở thành một trong những thuật ngữ mang tính chất chìa khóa. Nhìn nhận một cách tổng quát, diễn ngôn nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân. Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào.
Khái niệm “diễn ngôn”, theo cách hiểu của chúng ta ngày nay, lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm của các nhà tư tưởng Marxist Liên Xô (như Bakhtin, Voloshinov, Medvedev…) trước khi được phát triển và hoàn thiện, dưới những tên gọi khác nhau, bởi các tác giả tiền 1968 và hậu 1968 như Barthes, Althusser, Foucault, Derrida… mà đa số là những trí thức theo chủ nghĩa bình dân, một số thực sự là Marxist. Ba nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX đó là F. Foucault là những người đặt nền cho những hàm nghĩa mới của “diễn ngôn”. Vấn đề này đã được tổng thuật một cách chi tiết trong công trình “Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn” [24].
Đầu tiên, theo hƣớng tiếp cận về mặt cấu trúc, các nhà cấu trúc chủ nghĩa cho rằng, “diễn ngôn” chính là cấu trúc của ngôn ngữ, cụ thể nhìn nhận trong từng phát ngôn của con người, tức lời nói. Cấu trúc ở đây được hiểu là 12 download by : skknchat@gmail.com cần tuân theo những nguyên tắc nhất định về việc tổ chức, sắp xếp logic hệ thống ngôn từ theo một hệ chuẩn những quy tắc nhất định khi sử dụng ngôn ngữ. Nhìn nhận “diễn ngôn” theo hƣớng tiếp cận phong cách học, nhà nghiên cứu M. Bakhtin cho rằng diễn ngôn luôn thấm đẫm tư tưởng, cảm xúc, thái độ chủ quan của người nói, hay nói cách khác, luôn tồn tại dƣới dạng kép lời nói- tƣ tƣởng hệ.
Từ cách nhìn nhận này, có thể thấy “diễn ngôn” có bản chất là đối thoại. Theo hƣớng xã hội học, nhà tư tưởng M. Foucault đã chỉ ra diễn ngôn có thể vừa là một công cụ, vừa là hệ quả của quyền lực; đồng thời, cũng là một vật cản, một khối chướng ngại vật, một mũi kháng cự và một điểm bắt đầu cho chiến lược đấu tranh. Diễn ngôn làm lan truyền và sản sinh quyền lực, nó củng cố chính nó, nhưng cũng hủy hoại nó và phơi bày nó, làm cho nó yếu đi và khiến nó có thể gây trở ngại cho chính nó.
Foucault cho rằng tri thức là sản phẩm được tạo ra bởi các diễn ngôn. Và bởi đằng sau diễn ngôn là quyền lực, cho nên, tri thức mà chúng ta có là kết quả của các mâu thuẫn về quyền lực. Toàn bộ tri thức mà chúng ta có, thực chất là kết quả của quá trình chinh phục các đối tượng, dùng quyền lực để áp đặt thước đo chuẩn mực lên đối tượng. Từ ba tư tưởng này, người ta không chỉ thấy được sự phát triển và phân nhánh phức tạp của khái niệm diễn ngôn, mà còn quan sát được những bước chuyển lớn trong tư duy lý luận văn học nói riêng và khoa học xã hội nhân văn nói chung.
Từ việc tóm lược những cách tiếp cận chính đối với diễn ngôn, có thể thấy các cách tiếp cận khái niệm tuy có khác nhau, song vẫn có một số những luận điểm chung như sau: Diễn ngôn là một ngôn ngữ/ lời nói trong giao tiếp. Vì là ngôn ngữ/ lời nói trong giao tiếp (theo Bakhtin, diễn ngôn là nơi diễn ra sự tranh biện của tư tưởng, theo Foucault, diễn ngôn là nơi xảy ra cuộc xung đột giữa các quyền lực), nên nó có vai trò thiết lập nên mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giữa thông tin và kí hiệu. Do đó, muốn quá trình giao tiếp được thông 13 download by : skknchat@gmail.com suốt, người ta phải nắm được mã diễn ngôn, một hệ thống những đơn vị và cấu trúc chi phối việc vận hành của diễn ngôn đó. Muốn giải mã diễn ngôn, phải tìm ra những cấu trúc bề sâu bên trong các diễn ngôn.
Tuy nhiên, mỗi học giả lại có một cách lí giải khác nhau về cấu trúc này. Các nhà cấu trúc chủ nghĩa như G. Todorov, Greimas cho rằng, cấu trúc bề sâu của các diễn ngôn là một cấu trúc ngôn ngữ trừu tượng, khái quát, có thể phân tích thành các yếu tố như ngôi, thời, thể, thức, giọng (giống như các yếu tố ngôn ngữ trong một câu), và vì thế, họ dùng bộ mã này để phân tích các diễn ngôn. Theo Bakhtin, đơn vị cấu trúc nên các diễn ngôn (lời nói) là các phát ngôn.
Các phát ngôn này lại được tập hợp và tổ chức một cách chặt chẽ trong cái mà ông gọi là thể loại lời nói. Foucault, có những cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài chi phối việc tạo lập và vận hành diễn ngôn. Cấu trúc bên trong gồm có: tri thức hệ, nhân định, diễn ngôn/các diễn ngôn, thư khố, sự loại trừ bên trong diễn ngôn. Các cấu trúc bên ngoài của diễn ngôn bao gồm: bình luận, những nghi thức, tác giả.
Trên cơ sở sự tổng hợp các quan niệm khác nhau của các học giả trong nghiên cứu diễn ngôn, dễ thấy có ít nhất hai mã chi phối việc tạo lập và vận hành các diễn ngôn: mã hệ tƣ tƣởng, mã thể loại. Vận dụng diễn ngôn - công cụ lý thuyết để nghiên cứu văn học, chúng tôi coi diễn ngôn như một phương tiện văn học để phân tích quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng lí thuyết diễn ngôn để nghiên cứu các phát ngôn bao gồm có lời đối thoại trực tiếp, lời độc thoại nội tâm của nhân vật Thúy Kiều dựa trên mã hệ tư tưởng và mã thể loại. Khái niệm về mã và mã hệ tƣ tƣởng, mã thể loại của lí thuyết diễn ngôn 1.
Khái niệm về mã “Mã” có thể được hiểu là sự ẩn chứa những bí mật chuyên dụng thuộc một lĩnh vực nào đó mà nếu không có phương tiện, cách thức giải mã thì chúng ta không thể nào tiếp nhận một cách thấu đáo về lĩnh vực ấy. 14 download by : skknchat@gmail.com “Mã” là một khái niệm được sử dụng trong nhiều trong lĩnh vực của cuộc sống như: ngôn ngữ học, công nghệ thông tin, kí hiệu học, nghiên cứu văn học. Theo nghĩa thông thường nhất, mã là nguyên tắc xây dựng mối quan hệ giữa thông tin và kí hiệu. Tìm hiểu sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ học, người đầu tiên sử dụng khái niệm mã là Saussure.
Ông cho rằng lời nói là một phức hợp các phương tiện mà chủ nói sử dụng mã của ngôn ngữ nhằm diễn tả suy nghĩ cá nhân. Jacobson (gồm người phát, người nhận, thông điệp, tiếp xúc, mã, ngữ cảnh), mã có vai trò rất quan trọng, giúp người tham gia giao tiếp có thể hiểu được thông điệp và nhờ đó mà quá trình giao tiếp được thông suốt. Từ những quan niệm được đưa ra về mã, có thể thấy những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, trong quá trình giao tiếp, người nhận muốn hiểu được thông điệp của người gửi thì cần thông qua một sự quy ước ngầm hiểu của cả đôi bên. Vì vậy có thể nói, “mã” có vai trò quan trọng trong việc hình thành mối quan hệ giao tiếp.
Tức là, nó là yếu tố xác lập nên mối quan hệ giữa ngƣời phát tín hiệu và ngƣời nhận, giữa thông điệp và ý nghĩa thông điệp (nếu không hiểu được mã văn hóa của một bộ tộc, chắc chắn khó có thể giao tiếp với người dân của bộ tộc ấy, cũng như không hiểu được tiếng nước ngoài, ta không thể giao tiếp với người ngoại quốc). Thứ hai, trong lĩnh vực truyền tin, mã là một hệ thống ngôn ngữ đặc biệt, bởi nó có những đơn vị và quy tắc tổ chức các đơn vị ấy thành một hệ thống, giúp truyền đạt thông tin. Nó biến những tín hiệu ngôn ngữ từ định dạng thông thường sang dạng thức mà chỉ một nhóm có cách “giải mã” mới hiểu được. Từ đó có thể suy ra, văn bản cũng có mã của nó.
Đó là khi muốn tạo lập văn bản cần có một hệ thống ngữ pháp tạo thành một chỉnh thể hợp lý về nội dung và hình thức. Hệ thống ngữ pháp ấy chính là chìa khóa để giải mã thông điệp giữa người gửi và người nhận trong giao tiếp. Tất nhiên, ngôn ngữ cũng 15 download by : skknchat@gmail.com được coi là một mã. Bởi lẽ nó là nguyên tắc xác lập quan hệ giữa thông tin và kí hiệu dạng lời nói hoặc chữ viết.
Phải nắm được những qui tắc của ngôn ngữ, người ta mới có thể giao tiếp. Văn hóa, văn học đều có một hệ thống mã, mà dựa vào đó, người ta có thể tiếp cận được các tác phẩm và thích nghi với một nền văn hóa. Văn hóa là yếu tố hệ thống, văn học là yếu tố bộ phận. Vì thế muốn hiểu mã văn học cần nắm vững mã văn hóa.
Khái niệm mã hệ tƣ tƣởng "Hệ tư tưởng" là khái niệm có nhiều cách lý giải khác nhau và chưa đi đến thống nhất. Nhà tâm lý học người Mĩ McCLelland đã từng khẳng định rằng: “Hệ tư tưởng” là khái niệm khó nắm bắt nhất trong toàn bộ khoa học xã hội”. Hệ tư tưởng có nội hàm, đặc trưng và chức năng không giống nhau khi nó được tiếp nhận, đánh giá từ lập trường, góc độ phân tích hay từ các quốc gia khác nhau. Và để có thể định nghĩa và giải thích khái niệm “Hệ tư tưởng” điều tất yếu chúng ta cần tìm hiểu về nguồn gốc xuất hiện và làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm.
Về mặt cấu tạo từ, trong tiếng Pháp, thuật ngữ “Hệ tư tưởng” (ideologie) do hai bộ phận là ideo và hậu tố - logie hợp thành.