đặt vấn đề đấu tranh chống chính quyền của giai cấp tư sản, nên chính quyền tư sản có thể sử dụng luật pháp, bộ máy cai trị, cảnh sát, nhà tù. để đàn áp phong trào. Thậm chí, giới chủ tư bản có thể có những nhượng bộ nhất định (tăng tiền công, giảm giờ làm xuống còn 8 giờ/ngày, cải tiến máy móc.) để mua chuộc một bộ phận công nhân, xoa dịu phong trào đấu tranh. Thực tiễn đó đòi hỏi phải có một tổ chức chính trị để định hướng, dẫn dắt và tổ chức phong trào công nhân trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
Sau quá trình nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học và các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã hình thành, C. Ăngghen đã hình thành hệ thống quan điểm lý luận tương đối hoàn chỉnh, với ba bộ phận cấu thành là: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; 12 kinh tế chính trị học mácxít; chủ nghĩa xã hội khoa học. Hệ thống lý luận khoa học đó là cơ sở để C. Ăngghen nghiên cứu, phân tích đời sống chính trị và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản lúc bấy giờ.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử do C. Ăngghen xây dựng nên đã chỉ ra quá trình phát triển tự nhiên, khách quan của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Sau xã hội cộng sản nguyên thủy không có giai cấp, từ chế độ chiếm hữu nô lệ xã hội đã hình thành các giai cấp, sự phân chia thành các giai cấp có địa vị xã hội và lợi ích khác nhau. Trong quá trình cùng tồn tại, giữa các giai cấp không tránh khỏi nảy sinh các mâu thuẫn giai cấp và nổ ra các cuộc đấu tranh giai cấp.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa tồn tại mâu thuẫn giữa các giai cấp, tiêu biểu là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Mặc dù hai giai cấp này phải nương tựa vào nhau, giai cấp tư sản tồn tại nhờ bóc lột giai cấp vô sản và giai cấp vô sản chỉ tồn tại khi bán được sức lao động cho nhà tư bản, nhưng đây là hai giai cấp có địa vị xã hội và lợi ích đối lập nhau. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng trở nên gay gắt, nên tất yếu đã nổ ra cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản phát triển dần từ thấp đến cao; từ phạm vi nhỏ 13 đến phạm vi lớn; từ đấu tranh thuần túy về kinh tế, vì các mục tiêu kinh tế và đời sống đến đấu tranh về chính trị; từ đấu tranh chống giới chủ tư bản đến đấu tranh với cả chính quyền nhà nước tư sản.
Khi cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến đỉnh cao sẽ nổ ra cách mạng xã hội, giai cấp cách mạng tiến hành cuộc cách mạng xã hội lật đổ sự thống trị, chính quyền nhà nước của giai cấp thống trị. Ăngghen, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước tư bản tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng vô sản, giai cấp vô sản sẽ tiến hành cách mạng vô sản nhằm lật đổ chính quyền tư sản và cả chế độ tư bản chủ nghĩa, thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, thay thế chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa bằng chế độ chính trị, trong đó quyền thống trị về chính trị thuộc về giai cấp vô sản, tức nền chuyên chính vô sản. Khi cuộc đấu tranh giai cấp đã tiến tới cuộc cách mạng xã hội, không chỉ đấu tranh về kinh tế mà trở thành đấu tranh chính trị, vấn đề quyết định là phải có sự dẫn dắt của một đảng chính trị; theo đó, lực lượng dẫn dắt giai cấp vô sản trong quá trình đấu tranh tiến tới cách mạng vô sản chính là đảng cộng sản. Điều này là tất yếu khách quan, cũng giống như trong xã hội phong kiến, giai cấp tư sản muốn tiến hành đấu tranh chống giai cấp phong kiến, thực hiện cuộc cách mạng tư sản để lật đổ chế độ 14 phong kiến nhất thiết phải thành lập các đảng chính trị tư sản để dẫn dắt.
Ăngghen, trong cuộc đấu tranh của mình chống quyền lực liên hợp của các giai cấp hữu sản, chỉ khi giai cấp công nhân được tổ chức thành một chính đảng độc lập với tất cả các chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập nên, thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp; việc tổ chức giai cấp công nhân thành một chính đảng là cần thiết để bảo đảm thắng lợi của cách mạng xã hội và giành được mục đích cuối cùng là thủ tiêu các giai cấp. Sự luận giải của C. Ăngghen về tính tất yếu khách quan của sự ra đời đảng cộng sản không chỉ đơn thuần từ sự phân tích lý luận, mà còn xuất phát từ trải nghiệm thực tế của hai ông trong phong trào công nhân. Trước nhu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, vào năm 1836, tại Pari (Pháp) “Liên đoàn những người chính nghĩa” đã được thành lập.
Vào mùa xuân năm 1847, các lãnh tụ của tổ chức này mời C. Ăngghen tham gia. Lúc đầu, các ông không tham gia, vì thấy tổ chức này chưa có lý luận khoa học soi đường và mục tiêu của tổ chức này vẫn chỉ là chia sẻ tình cảm giai cấp giữa những người cùng bị áp bức, bóc lột. Khi nhận thấy lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học đã chín muồi và cần được truyền bá vào phong trào công nhân, hai ông đã 15 nhận lời tham gia tổ chức này với điều kiện tổ chức này phải được cải tổ.
Với sự tham gia của C. Ăngghen, Đại hội lần thứ I Liên đoàn những người chính nghĩa được tổ chức vào tháng 6/1847 tại Luân Đôn đã quyết định đổi tên tổ chức này thành “Liên đoàn những người cộng sản”. Đây chính là đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới. Đảng cộng sản ra đời trên cơ sở nào? Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và từ thực tiễn thành lập đảng cộng sản đầu tiên, C.
Ăngghen đã khái quát: Đảng cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Đây là hai yếu tố cần thiết bắt buộc để ra đời đảng cộng sản, thiếu một trong hai yếu tố này thì không thể ra đời đảng cộng sản hoặc tổ chức của công nhân không đúng là đảng cộng sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học là sự kế thừa những nhân tố hợp lý trong các tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã được hình thành, bổ sung và phát triển, làm cho nó trở thành khoa học. Chủ nghĩa xã hội khoa học do C.
Ăngghen sáng lập nên là hệ thống các quan điểm khoa học về lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người, về đời sống kinh tế và đời sống chính trị của xã hội, hệ thống lý luận về cách mạng vô sản, mô hình xã hội cộng sản trong tương lai và con đường đi tới xã hội cộng sản. 16 Chủ nghĩa xã hội khoa học thâm nhập vào phong trào công nhân sẽ đem lại cho giai cấp công nhân những nhận thức mới, căn bản: Một là, giúp giai cấp công nhân giác ngộ về địa vị và sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và là giai cấp xây dựng xã hội tương lai sau xã hội tư bản; Hai là, ý thức được cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân không chỉ là cuộc đấu tranh kinh tế, mà là cuộc đấu tranh chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị và chính quyền của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền, giải phóng giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác, thiết lập nên chế độ xã hội mới, chính quyền mới, trong đó giai cấp vô sản giữ địa vị thống trị; Ba là, hiểu được tính tất yếu phải lập ra chính đảng độc lập của giai cấp mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh thủ tiêu nền chuyên chính tư sản, thiết lập nền chuyên chính vô sản. Vì thế, chủ nghĩa xã hội khoa học là yếu tố không thể thiếu cho sự ra đời đảng cộng sản. Tuy nhiên, nếu chủ nghĩa xã hội khoa học không kết hợp với phong trào công nhân thì lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vẫn chỉ là lý luận, không có lực lượng vật chất để thực hiện; về mặt tổ chức, nhiều lắm cũng chỉ hình thành nên các câu lạc bộ bàn cãi, tranh luận về lý luận, cao nhất là các hội truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học.
Chính phong trào đấu tranh của công nhân là lực lượng 17 hiện thực hóa những tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học thành phong trào đấu tranh trên thực tế; là hiện thân của lý tưởng, ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội cộng sản; từ thực tiễn của phong trào công nhân, nhất là qua các thất bại, giai cấp công nhân hiểu rõ sự cần thiết phải có chủ nghĩa xã hội khoa học soi sáng, dẫn đường. Đặc biệt, phong trào công nhân là nơi phát hiện, đào luyện nên những công nhân ưu tú, có tinh thần hăng hái cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân, trở thành các đảng viên cộng sản. Nếu không có những con người này, đảng sẽ không thật sự trở thành một tổ chức chiến đấu, một tổ chức hành động, một tổ chức cách mạng. Mặc dù phong trào đấu tranh của công nhân đã nổ ra từ nhiều năm trước, ở nhiều nước và có thu được một số kết quả nhất định, nhưng về cơ bản vẫn trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa, trong giới hạn luật pháp tư sản, chưa làm lung lay tận gốc cơ sở kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản, thậm chí chưa phải chống kẻ thù của mình mà đi chống kẻ thù của kẻ thù mình.
Có một số công nhân vì các mục đích thực dụng, được giới chủ tư bản ban phát cho một số quyền lợi, mua chuộc, dụ dỗ đã quay sang cản trở cuộc đấu tranh của công nhân, biến một số tổ chức công đoàn thành 18 “công đoàn vàng”. Nếu phong trào công nhân không kết hợp với chủ nghĩa xã hội khoa học, không có chủ nghĩa xã hội soi đường, thì sẽ không vượt ra khỏi chủ nghĩa công đoàn.