Phân tích tình hình sử dụng thuốc đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa

Tài liệu phân tích thực trạng sử dụng thuốc đái tháo đường typ 2 tại BV Nội tiết Thanh Hóa. Báo cáo cung cấp số liệu, phác đồ, đánh giá hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Dược Sĩ Chuyên Khoa Cấp I

2020

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Thanh Hóa

Đái tháo đường typ 2 là một bệnh chuyển hóa mãn tính phổ biến, chiếm tỷ lệ cao trong dân số Việt Nam. Tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa, nghiên cứu của Trương Thị Hiếu năm 2020 đã phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 tại phòng khám ngoại trú. Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hoàng Anh từ Trường Đại học Dược Hà Nội, cung cấp những thông tin quý báu về chiến lược điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các loại thuốc hạ đường huyết hiện nay, bao gồm các nhóm thuốc khác nhau và liều lượng sử dụng. Kết quả nghiên cứu giúp cải thiện chất lượng điều trị bệnh đái tháo đường và nâng cao hiệu quả quản lý bệnh cho bệnh nhân tại bệnh viện.

1.1. Định nghĩa và phân loại bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa glucose. Bệnh đái tháo đường typ 2 chiếm khoảng 85-90% tổng số bệnh nhân mắc bệnh. Bệnh xảy ra do kháng insulin hoặc suy giảm khả năng tiết insulin của tuyến tụy. Các tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm glucose máu lúc đói (FPG) cao hơn 126 mg/dL, HbA1c ≥ 6,5% hoặc glucose máu 2 giờ sau test dung nạp ≥ 200 mg/dL.

1.2. Đặc điểm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Thanh Hóa

Nghiên cứu tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa cho thấy đa số bệnh nhân đái tháo đường typ 2 là những người trung tuổi và cao tuổi. Chỉ số khối cơ thể (BMI) của bệnh nhân thường trong khoảng thừa cân hoặc béo phì. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, tiền sử gia đình, lối sống không lành mạnhthừa cân. Bệnh nhân thường kèm theo các biến chứng như cao huyết áprối loạn lipid máu.

II. Phương pháp điều trị thuốc hạ đường huyết tại bệnh viện

Điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 bao gồm cả biện pháp không dùng thuốcsử dụng thuốc điều trị. Tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa, các bác sỹ áp dụng các loại thuốc hạ đường huyết khác nhau tùy theo tình trạng bệnh nhân. Thuốc thế hệ mới như ức chế DPP-4ức chế SGLT2 được sử dụng ngày càng phổ biến. Ngoài ra, insulin vẫn là lựa chọn quan trọng cho những bệnh nhân có glucose máu không kiểm soát. Luận văn nghiên cứu đã phân tích tình hình sử dụng thuốc theo phân loại dược học cơ bản (ĐLCT), đánh giá liều lượng sử dụngkết hợp thuốc. Mục tiêu là đạt được kiểm soát glucose máu tốt nhất và giảm thiểu biến chứng.

2.1. Các nhóm thuốc điều trị đái tháo đường chính

Nhóm thuốc ức chế DPP-4 là những chất ức chế enzyme dipeptidyl peptidase IV, giúp tăng nồng độ GLP-1GIP trong máu. Nhóm thuốc ức chế SGLT2 hoạt động bằng cách chặn tái hấp thụ glucose tại thận. Thuốc metformin vẫn là thuốc lựa chọn ban đầu cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Nhóm thiazolidinedion (TZD) giúp cải thiện nhạy cảm insulin của các mô.

2.2. Hiệu quả điều trị và theo dõi bệnh nhân

Hiệu quả điều trị được đánh giá qua glucose máu lúc đói (FPG), HbA1c, huyết ápchỉ số lipid máu. Nghiên cứu tại Bệnh viện Thanh Hóa cho thấy kết quả điều trị tích cực khi sử dụng các thuốc hạ đường huyết phù hợp. Mục tiêu HbA1c thường được đặt là < 7% cho hầu hết bệnh nhân. Theo dõi định kỳ glucose máu và các chỉ số liên quanyếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị.

III. Phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị tại phòng khám ngoại trú

Thực trạng sử dụng thuốc đái tháo đường typ 2 tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa được khảo sát thông qua phiếu thu thập thông tin bệnh nhân. Nghiên cứu bao gồm phân tích liều lượng thuốc, thời gian sử dụng, kết hợp thuốctuân thủ điều trị của bệnh nhân. Dữ liệu thu thập từ danh sách bệnh nhân tại bệnh viện trong giai đoạn 28/7/2020 – 28/11/2020. Kết quả cho thấy tình hình sử dụng thuốc khác nhau giữa các nhóm bệnh nhân có chỉ số BMI khác nhau. Mô hình điều trị phổ biến là sử dụng metformin kết hợp với các thuốc khác. Một số bệnh nhân cần bổ sung insulin để đạt được kiểm soát glucose máu tốt hơn.

3.1. Đặc điểm sử dụng thuốc theo từng nhóm bệnh nhân

Bệnh nhân có BMI cao thường được sử dụng metformin liều cao hơn. Bệnh nhân tuổi cao có xu hướng sử dụng ít thuốc kết hợp hơn để giảm nguy cơ tác dụng phụ. Những bệnh nhân có biến chứng như cao huyết áp cần điều trị song song với các thuốc hạ huyết áp. Tuân thủ điều trịyếu tố quyết định để đạt hiệu quả tối ưu.

3.2. Mô hình kết hợp thuốc và liều lượng sử dụng

Chiến lược kết hợp thuốc thường bắt đầu với monotherapy (sử dụng một loại thuốc). Nếu glucose máu không kiểm soát, thuốc thứ hai được thêm vào. Liều lượng metformin thường dao động từ 1000-2000 mg/ngày. Thuốc ức chế DPP-4ức chế SGLT2những lựa chọn bổ sung phổ biến. Insulin basalbolus được sử dụng khi các thuốc khác không đủ hiệu quả.

IV. Đánh giá hiệu quả điều trị và khuyến nghị lâm sàng

Đánh giá hiệu quả điều trị dựa trên sự thay đổi các chỉ số cận lâm sàng bao gồm glucose máu lúc đói (FPG), HbA1c, huyết ápchỉ số lipid máu (LDL-C, HDL-C, triglyceride). Các chỉ tiêu đánh giá này được theo dõi tại thời điểm khảo sát ban đầu (T0)những thời điểm sau đó. Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Thanh Hóa cho thấy hiệu quả tích cực trong điều trị bằng thuốc. Sự cải thiện glucose máu được ghi nhận ở phần lớn bệnh nhân tuân thủ điều trị. Những khuyến nghị lâm sàng từ Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA)Tổ chức Y tế thế giới (WHO) được áp dụng để tối ưu hóa điều trị. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực tế về hiệu quả các loại thuốc trong điều trị bệnh đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện.

4.1. Đánh giá sự thay đổi các chỉ số glucose máu

Glucose máu lúc đói (FPG)chỉ tiêu quan trọng để theo dõi điều trị. Mục tiêu FPG thường là 80-130 mg/dL. Chỉ số HbA1c phản ánh kiểm soát glucose trung bình trong 2-3 tháng trước. Mục tiêu HbA1c cho hầu hết bệnh nhân là < 7% (53 mmol/mol). Sự cải thiện của cả FPGHbA1c sau điều trị chứng minh hiệu quả của thuốc được sử dụng.

4.2. Khuyến nghị lâm sàng và quản lý bệnh tích hợp

Quản lý bệnh đái tháo đường typ 2 cần kết hợp cả điều trị không dùng thuốc (thay đổi lối sống, chế độ ăn uống, tập thể dục) và sử dụng thuốc. Theo dõi định kỳ các chỉ số sức khỏecần thiết để phát hiện biến chứng sớm. Giáo dục bệnh nhân về tự kiểm soát đường huyết giúp nâng cao tuân thủ điều trị. Hợp tác giữa các chuyên gia y tế (bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng) tạo nên mô hình chăm sóc tổng hợp tốt nhất.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc cơ thể không sử dụng insulin một cách hiệu quả. Khi bệnh ĐTĐ không được kiểm soát, tình trạng tăng đường huyết kéo dài gây tổn hại nhiều cơ quan trong cơ thể đặc biệt là thần kinh và mạch máu [34]. Theo Liên đoàn ĐTĐ Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh ĐTĐ, tương đương cứ 11 người có 1 người bị ĐTĐ, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có 1 người bị ĐTĐ. Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ typ 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng [3].

Trong năm 2012 ĐTĐ là nguyên nhân trực tiếp của 1,5 triệu ca tử vong và 2,2 triệu ca tử vong khác được quy nguyên nhân cho ĐTĐ. Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng lên nhanh chóng ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình. Theo dự báo đến năm 2030 ĐTĐ sẽ đứng thứ bảy trong các nguyên nhân gây tử vong trên toàn thế giới [34]. Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1 % (ở thành phố Hà nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (thành phố Huế), nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%.

Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [3]. Theo thống kê của Liên đoàn ĐTĐ quốc tế (IDF) năm 2015,Việt Nam có 5,6% dân số từ 20-79 tuổi mắc ĐTĐ typ 2 [27]. Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa là bệnh viện chuyên khoa hạng 2 tuyến tỉnh, được thành lập từ năm 2007 theo quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với chức năng khám và điều trị các bệnh lý chuyên khoa về nội tiết. Những năm gần đây, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện ngày càng gia tăng, trong đó tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ chiếm tỷ lệ khá cao.

Để nâng cao chất lượng khám và điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viện thì việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn cho bệnh nhân là việc vô cùng cần thiết, đặc biệt là bệnh nhân ĐTĐ typ 2. Tuy nhiên, cho đến nay tại bệnh viện chưa có đề tài nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ 1 typ 2 điều trị ngoại trú. Vì vậy, để có một cái nhìn tổng thể chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc đái tháo đường typ 2 tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa” với 02 mục tiêu sau: 1. Phân tích thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị đái tháo đường typ 2 ở bệnh nhân ngoại trú 2.

Đánh giá hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 sau 3 tháng điều trị ngoại trú Từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc ĐTĐ typ 2 cho bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa. BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Định nghĩa Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ typ 2 của Bộ Y tế năm 2017: “Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh” [3].

Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) định nghĩa: “ĐTĐ là một nhóm bệnh lý chuyển hóa, đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết trong việc bài tiết insulin, hoạt động của insulin kém hiệu quả hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường dẫn đến sự hủy hoại, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, tim, thần kinh và mạch máu” [22]. Phân loại đái tháo đường * ĐTĐ typ 1 [3] ĐTĐ typ 1 do tế bào beta bị phá hủy nên bệnh nhân không còn hoặc còn rất ít insulin, 95% do cơ chế tự miễn (typ 1 A), 5% vô căn (typ1 B). Bệnh nhân bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton.

Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên. Bệnh nhân cần insulin để ổn định glucose huyết. Người lớn tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm còn gọi là Latent Autoimmune Diabetes of Adulthood (LADA), lúc đầu bệnh nhân còn đủ insulin nên không bị nhiễm toan ceton và có thể điều trị bằng thuốc viên nhưng tình trạng thiếu insulin sẽ nặng dần với thời gian. ĐTĐ typ 1 tự miễn thường có các tự kháng thể (KT) trong máu trước khi xuất hiện bệnh, lúc mới chẩn đoán: KT kháng Glutamic acid decarboxylase 65 (GAD 65), KT kháng Insulin (IAA), KT kháng tyrosine phosphatase IA 2(ICA 512), KT kháng Zinc transpoeter 8 (ZnT8).

Khi bệnh kéo dài, các KT sẽ giảm dần. Những người thân trong gia đình cũng có thể mang các kháng thể này. Dấu ấn di truyền của ĐTĐ typ 1: Mẹ bị ĐTĐ typ 1 nguy cơ con bị là 3%, nguy cơ tăng đến 6% nếu cha bị ĐTĐ. Tỷ lệ cùng mắc ĐTĐ typ 1 ở hai trẻ sinh đôi cùng 3 trứng là 25-50%.

Gen mã hóa nhóm phù hợp tổ chức lớp II DR DQ có liên quan đến tăng nguy cơ ĐTĐ typ 1. Yếu tố môi trường của ĐTĐ typ 1: virus quai bị, rubella bẩm sinh, thuốc diệt chuột Vacor, hydrogen cyanide ở rễ cây sắn có liên quan đến ĐTĐ typ 1. * ĐTĐ typ 2 [3] ĐTĐ typ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Thể bệnh này bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin.

Bệnh nhân không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số bệnh nhân có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ typ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện. Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường.

Yếu tố di truyền ảnh hưởng mạnh trong bệnh ĐTĐ typ 2, tỷ lệ cùng bị ĐTĐ của hai người sinh đôi cùng trứng là 90%, hầu hết người ĐTĐ typ 2 đều có thân nhân bị ĐTĐ. Có thể bệnh do ảnh hưởng của nhiều gen chi phối. Nếu tìm được một gen cụ thể gây tăng glucose huyết, bệnh nhân sẽ được xếp vào thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ. Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến gia tăng tỉ lệ ĐTĐ typ 2 liên quan đến béo phì, ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, giàu carbohydrat, ít vận động.

Phân biệt ĐTĐ typ 1 và ĐTĐ typ 2 [3] Đặc điểm ĐTĐ typ 1 ĐTĐ typ 2 Trẻ, thanh thiếu Tuổi xuất hiện Tuổi trưởng thành niên Các triệu chứng Khởi phát Chậm, thường không rõ triệu chứng rầm rộ - Bệnh diễn tiến âm ỉ, ít triệu chứng - Thể trạng béo, thừa cân - Sút cân nhanh - Tiền sử gia đình có người mắc chóng. Biểu hiện lâm sàng - Đái nhiều. - Đặc tính dân tộc, có tỷ lệ mắc - Uống nhiều bệnh cao. - Dấu gai đen (Aeanthosis nigricans) 4 - Hội chứng buồng trứng đa nang Nhiễm ceton, tăng ceton Dương tính Thường không có trong máu, nước tiểu Thấp/không đo C-peptid Bình thường hoặc tăng được Kháng thể: Kháng đảo tụy (ICA) Kháng Glutamic acid decarboxylase 65 (GAD 65) Kháng Insulin (IAA) Dương tính Âm tính Kháng Tyrosine phosphatase (IA-2) Kháng Zinc Transporter 8 (ZnT8) Bắt buộc dùng Thay đổi lối sống, thuốc viên và/ Điều trị insulin hoặc insulin Cùng hiện diện với với Có Hiếm bệnh tự miễn khác Các bệnh lý đi kèm lúc mới Thường gặp, nhất là hội chứng chẩn đoán: THA, rối loạn Không có chuyển hóa chuyển hóa lipid, béo phì * ĐTĐ thai kỳ [3] ĐTĐ thai kỳ là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ typ 1, typ 2 trước đó.

Nếu phụ nữ có thai 3 tháng đầu được phát hiện tăng glucose huyết thì chẩn đoán là ĐTĐ chưa được chẩn đoán hoặc chưa được phát hiện và dùng tiêu chí chẩn đoán như ở người không có thai. * Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ-ĐTĐ thứ phát [3] - Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen trội tại tế bào beta. ĐTĐ đơn gen thể MODY (Maturity Onset Diabetes of the Young) - Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen lặn tại tế bào beta: Hội chứng Mitchell-Riley, Hội chứng Wolcott-Rallison, Hội chứng Wolfram, Hội chứng thiếu máu hồng cầu to đáp ứng với thiamine, ĐTĐ do đột biến DNA ty thể. Các thể bệnh này hiếm gặp và thường gây ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ ở trẻ em.

- Khiếm khuyết gen liên quan đến hoạt tính insulin - Bệnh lý tụy: viêm tụy, chấn thương, u, cắt tụy, xơ sỏi tụy, nhiễm sắc tố sắt. 5 - ĐTĐ do bệnh lý nội tiết: to đầu chi, hội chứng Cushing, u tủy thượng thận, cường giáp, u tiết glucagon. - ĐTĐ do thuốc, hóa chất: interferon alpha, corticoid, thiazide, hormon giáp, thuốc chống trầm cảm, antiretroviral protease inhibitors. - Các hội chứng bất thường nhiễm sắc thể khác (Hội chứng Down, Klinefelter, Turner.) đôi khi cũng kết hợp với ĐTĐ.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường typ 2 * Nguyên nhân của ĐTĐ typ 2: [1] Yếu tố di truyền và yếu tố môi trường. Yếu tố môi trường là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là: Sự thay đổi lối sống: giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh bột, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng. Chất lượng thực phẩm: ăn nhiều các loại carbohydrat hấp thu nhanh (đường tinh chất, bánh ngọt, kẹo…), chất béo bão hòa, chất béo trans… * Cơ chế bệnh sinh Có thể chia cơ chế bệnh sinh thành hai nhóm: đề kháng insulin (ở cơ, gan, mô mỡ) và suy giảm chức năng tế bào beta [1], [14], [30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ