Tổng quan nghiên cứu

Theo kết quả điều tra y tế quốc gia, tỷ lệ người dân tự điều trị khi gặp các vấn đề sức khỏe lên tới 67%, biến các nhà thuốc và quầy thuốc bán lẻ thành điểm tiếp cận dịch vụ y tế đầu tiên của cộng đồng. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã kéo theo nhiều bất cập nghiêm trọng trong hệ thống phân phối dược phẩm tại tuyến cơ sở, đặc biệt là tình trạng lạm dụng thuốc và sự tồn tại tràn lan của các cơ sở bán thuốc không phép. Khảo sát sơ bộ tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ghi nhận có tới 26 cơ sở dịch vụ dược không đăng ký phân bố đồng đều tại xã Đông Tảo (13 cơ sở) và thị trấn Khoái Châu (13 cơ sở), trong khi khoảng 80% người dân địa phương có thói quen mua thuốc tự điều trị không qua thăm khám của bác sĩ.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng với tên gọi "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến lựa chọn dịch vụ dược của người dân xã Đông Tảo và thị trấn Khoái Châu huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên" được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp vấn đề bức thiết này. Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu cụ thể: mô tả thực trạng lựa chọn các loại hình dịch vụ dược của 400 hộ gia đình và phân tích các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, xã hội thúc đẩy hành vi lựa chọn này trong giai đoạn từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 8 năm 2005. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống số liệu khoa học xác thực giúp các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý y tế địa phương tái cấu trúc mạng lưới cung ứng thuốc, kiểm soát tỷ lệ bán kháng sinh không kê đơn hiện đang ở mức báo động 63,6%, hướng tới thực thi hiệu quả Chính sách quốc gia về thuốc của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa Mô hình hành vi tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Andersen và bộ Tiêu chuẩn cung ứng thuốc cộng đồng do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành. Bộ tiêu chuẩn của WHO thiết lập 6 thước đo chuẩn mực đối với dịch vụ dược tuyến cơ sở bao gồm: tính thuận tiện (bán kính tiếp cận từ 30 đến 60 phút di chuyển), tính kịp thời (sẵn có đầy đủ thuốc thiết yếu), bảo đảm chất lượng thuốc, niêm yết giá công khai hợp lý, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý và bảo đảm tính kinh tế cho người bệnh. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng triết lý Chăm sóc dược (Pharmaceutical Care) nhằm phân tích toàn diện trách nhiệm của người bán thuốc đối với hiệu quả điều trị và sức khỏe lâu dài của người tiêu dùng.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  1. Dịch vụ dược: Điểm cung cấp và bán lẻ thuốc chữa bệnh cho nhân dân, phân loại thành 3 mô hình gồm dịch vụ dược nhà nước (trạm y tế, hiệu thuốc bệnh viện, hiệu thuốc quốc doanh), dịch vụ tư nhân có đăng ký hành nghề hợp pháp và dịch vụ tư nhân không đăng ký.
  2. Hộ gia đình: Tập hợp các cá nhân cùng sinh sống và ăn chung trong một mái nhà theo định nghĩa của Tổng điều tra Y tế quốc gia.
  3. Tình trạng ốm đau: Mọi biểu hiện bất thường về thể chất hoặc tâm thần kéo dài ít nhất 1 ngày theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới.
  4. Mức độ bệnh: Thước đo đánh giá tình trạng sức khỏe gồm 4 cấp độ (nhẹ, vừa, nặng và rất nặng) căn cứ trên khả năng lao động, sinh hoạt và mức độ phụ thuộc vào người chăm sóc.
  5. Hành vi tự điều trị: Việc người dân tự ý quyết định mua và sử dụng dược phẩm mà không có sự thăm khám, chỉ định hay đơn thuốc từ bác sĩ có chứng chỉ hành nghề.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích (cross-sectional analytical study), cho phép thu thập đồng thời dữ liệu về thực trạng sử dụng dịch vụ và các yếu tố liên quan tại cùng một thời điểm. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với hệ số tin cậy 95% (tương ứng giá trị Z = 1,96), mức sai số tuyệt đối cho phép d = 0,05 và giả định tỷ lệ hộ gia đình mua thuốc trong 4 tuần gần nhất p = 0,5. Cỡ mẫu lý thuyết xác định là 384 hộ, được làm tròn lên 400 hộ gia đình (200 hộ tại xã Đông Tảo và 200 hộ tại thị trấn Khoái Châu) sau khi tính thêm 5% dự phòng trường hợp từ chối tham gia.

Quy trình chọn mẫu tuân thủ phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ khung danh sách quản lý dân cư của Ủy ban Dân số địa phương, gồm 2047 hộ tại xã Đông Tảo (bước nhảy k = 10) và 1874 hộ tại thị trấn Khoái Châu (bước nhảy k = 9). Tác giả luận văn trực tiếp thực hiện phỏng vấn sâu thông qua bộ phiếu câu hỏi cấu trúc đối với người đại diện đi mua thuốc của hộ gia đình trong vòng 4 tuần qua, tiến hành gõ cửa tối đa 3 lần nhằm hạn chế tối đa sai số do vắng mặt. Toàn bộ dữ liệu được nhập liệu bằng phần mềm Microsoft Access và phân tích thống kê y học bằng chương trình SPSS 10.0, ứng dụng thuật toán kiểm định Chi bình phương với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 để xác minh các tương quan độc lập.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 400 hộ gia đình đã chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm phản ánh chân thực bức tranh tiêu dùng dược phẩm tại địa phương:

Thứ nhất, hành vi tự mua thuốc điều trị chiếm tỷ lệ áp đảo với 71,5% hộ gia đình tự ý mua thuốc khi có thành viên bị ốm (72,0% tại thị trấn Khoái Châu và 71,0% tại xã Đông Tảo), trong khi tỷ lệ đưa người bệnh đến bệnh viện chỉ đạt 19,0% và đến trạm y tế vỏn vẹn 6,25%.

Thứ hai, loại hình dịch vụ dược tư nhân không đăng ký chiếm thị phần phục vụ cao nhất với 46,0% tổng số lượt mua thuốc (xã Đông Tảo chiếm tới 50,5% và thị trấn Khoái Châu chiếm 41,5%). Dịch vụ dược nhà nước đứng thứ hai với 39,3%, trong khi dịch vụ dược tư nhân có đăng ký hợp pháp chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 14,7%.

Thứ ba, tình trạng vi phạm quy chế chuyên môn bán thuốc theo đơn diễn ra rất phổ biến; tỷ lệ số lần mua thuốc có chứa hoạt chất kê đơn tại các cơ sở tư nhân không đăng ký lên tới 72,7% và tại cơ sở nhà nước là 67,5%. Đáng chú ý, tỷ lệ mua thuốc có chứa kháng sinh tại các cơ sở tư nhân không phép lên tới 63,6%, cao hơn gấp 1,7 lần so với các nhà thuốc tư nhân có đăng ký chính thức (37,3%).

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực bán thuốc tồn tại khoảng trống lớn; tại xã Đông Tảo, 89,1% người bán tại các điểm không đăng ký có chuyên môn y sĩ hoặc điều dưỡng và 4,0% hoàn toàn không có văn bằng y dược; tại thị trấn Khoái Châu, tỷ lệ người bán không có bất kỳ chuyên môn y tế nào tại các cơ sở không phép chiếm tới 9,6%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến người dân ưu tiên lựa chọn dịch vụ dược tư nhân không đăng ký xuất phát từ yếu tố tiện lợi và cự ly địa lý. Có tới 62,5% người mua chọn cơ sở không phép vì tiện đường và gần nhà (81,75% hộ gia đình sinh sống cách quầy thuốc dưới 3 km), kết hợp với niềm tin cảm tính vào trình độ người bán (51,6%) và niềm tin vào chất lượng thuốc (41,3%). Sự bất bình đẳng trong phân bổ mạng lưới dược hợp pháp là nguyên nhân sâu xa: tại thị trấn Khoái Châu, 1 cơ sở dược hợp pháp phục vụ 573 người dân, trong khi tại xã Đông Tảo, con số này lên tới 2672 người dân trên 1 cơ sở hợp pháp.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trong nước, như nghiên cứu của tác giả Lê Thị Uyển ghi nhận tỷ lệ dịch vụ dược không đăng ký tại ngoại thành Hà Nội là 20,1% và nội thành là 23,0%, hay nghiên cứu của tác giả Võ Đức Bảo tại Thừa Thiên Huế chỉ ra 13,3% người bán thuốc không có trình độ chuyên môn dược. Phân tích thống kê đã khẳng định mối liên quan có ý nghĩa (p < 0,05) giữa sự lựa chọn dịch vụ dược với 4 yếu tố: nghề nghiệp (53,5% nông dân chọn quầy không phép), trình độ học vấn (53,0% người có trình độ phổ thông cơ sở chọn quầy không phép), mức độ bệnh (khi bệnh nặng, 66,7% người dân chuyển sang dịch vụ nhà nước) và khoảng cách địa lý (khi cự ly dưới 1 km, 55,4% người dân chọn quầy không phép). Trong các báo cáo phân tích nâng cao, các dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng phân tầng tỷ lệ tiếp cận theo khoảng cách địa lý và bảng phân tích hồi quy logistic đa biến để làm rõ tác động tương hỗ giữa các biến số.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chấn chỉnh thị trường bán lẻ thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, tiến hành tổng rà soát và đóng cửa các cơ sở không phép: Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu phối hợp với Phòng Y tế thành lập đoàn thanh tra liên ngành rà soát 100% cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn hai xã, thị trấn. Mục tiêu đặt ra là xử lý dứt điểm 26 điểm bán thuốc không đăng ký, thực hiện đóng cửa hoặc hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ cấp phép chuẩn hóa trong thời hạn 6 tháng kể từ khi ban hành kế hoạch.

Thứ two, kiểm soát nghiêm ngặt quy chế kê đơn và bán thuốc kháng sinh: Trung tâm Y tế huyện Khoái Châu ban hành văn bản chỉ đạo toàn bộ trạm y tế và hiệu thuốc quốc doanh thực hiện nghiêm quy chế chuyên môn, thiết lập mục tiêu giảm tỷ lệ bán thuốc kháng sinh không có đơn từ mức 63,6% hiện tại xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới phân phối thuốc đạt chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc (GPP) về vùng nông thôn: Sở Y tế tỉnh Hưng Yên khuyến khích các công ty dược phẩm đầu tư thành lập thêm ít nhất 3 đến 5 đại lý bán lẻ thuốc đạt chuẩn tại xã Đông Tảo trong lộ trình 18 tháng, nhằm giảm chỉ số phục vụ từ 2672 dân xuống dưới 1000 dân trên mỗi điểm bán thuốc hợp pháp.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông thay đổi hành vi sử dụng thuốc trong cộng đồng: Trạm Y tế xã Đông Tảo và thị trấn Khoái Châu phối hợp cùng hệ thống truyền thanh cơ sở phát sóng chuyên mục cảnh báo hiểm họa kháng kháng sinh và thói quen tự điều trị với tần suất 2 lần mỗi tuần, phấn đấu nâng tỷ lệ người dân hiểu đúng về cách dùng thuốc an toàn từ 23,0% lên trên 70% sau 1 năm triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và thanh tra ngành y tế: Cán bộ Sở Y tế và Phòng Y tế cấp huyện có thể sử dụng các chỉ số về tỷ lệ vi phạm quy chế bán thuốc và mạng lưới cơ sở không phép để xây dựng đề án siết chặt quản lý hành nghề y dược tư nhân tại khu vực nông thôn.
  2. Ban giám đốc trung tâm y tế và trạm trưởng trạm y tế cơ sở: Giúp nắm bắt tâm lý, hành vi lựa chọn và rào cản tiếp cận thuốc của người dân địa phương, từ đó cải tiến thái độ phục vụ và chất lượng cung ứng thuốc bảo hiểm y tế tại trạm y tế xã.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học y tế công cộng: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, thiết kế bộ công cụ phỏng vấn dịch tễ học và phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
  4. Doanh nghiệp dược phẩm và chuỗi nhà thuốc bán lẻ: Hỗ trợ các nhà đầu tư phân tích hành vi khách hàng nông thôn, nhu cầu thực tế về tính tiện ích và giá thành để phát triển các chuỗi nhà thuốc đạt chuẩn GPP tại các vùng thị trấn đang đô thị hóa.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao người dân nông thôn có xu hướng chọn cơ sở dịch vụ dược tư nhân không đăng ký nhiều nhất?

Số liệu khảo sát 400 hộ dân cho thấy 62,5% người mua ưu tiên yếu tố gần nhà và tiện đường, cùng 51,6% người dân đặt niềm tin vào kinh nghiệm của người bán quen thuộc. Thêm vào đó, việc được người bán tư vấn miễn phí mà không phải trả phí khám bệnh hay xếp hàng chờ đợi đã thúc đẩy 46,0% người dân tìm đến các điểm bán tư nhân không phép.

Tình trạng bán thuốc kháng sinh không có đơn diễn ra ở mức độ nào?

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ bán thuốc kháng sinh không cần đơn thuốc của bác sĩ đạt tới 63,6% tại các điểm dược tư nhân không đăng ký, 59,2% tại cơ sở dược nhà nước và 37,3% tại cơ sở tư nhân có đăng ký. Tình trạng lạm dụng kháng sinh tràn lan này đang trực tiếp gia tăng áp lực kháng thuốc trong cộng đồng dân cư địa phương.

Những yếu tố nào có ảnh hưởng mang tính thống kê đến quyết định chọn nơi mua thuốc?

Kiểm định Chi bình phương chứng minh 4 yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với lựa chọn dịch vụ dược gồm nghề nghiệp, học vấn, tình trạng bệnh và khoảng cách địa lý (p < 0,05). Ngược lại, hai yếu tố giới tính (p = 0,37) và nhóm tuổi (p = 0,20) không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Trình độ chuyên môn của người bán lẻ thuốc tại địa bàn nghiên cứu ra sao?

Tại thị trấn Khoái Châu, 100% người bán tại quầy thuốc nhà nước và tư nhân có phép đều có bằng cấp chuyên môn dược, nhưng tại các quầy không đăng ký có 9,6% người bán không có chuyên môn y tế. Tại xã Đông Tảo, có tới 89,1% người bán ở cơ sở không phép chỉ có chuyên môn y sĩ hoặc điều dưỡng.

Luận văn áp dụng quy trình chọn mẫu như thế nào để đảm bảo tính đại diện?

Tác giả đã lập khung mẫu từ danh sách 3921 hộ gia đình của hai địa bàn và thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy k = 10 tại xã Đông Tảo và k = 9 tại thị trấn Khoái Châu. Quy mô 400 mẫu bảo đảm độ tin cậy thống kê 95% và sai số tuyệt đối trong ngưỡng 0,05 theo đúng chuẩn dịch tễ học.

Kết luận

  • Luận văn xác định tỷ lệ tự mua thuốc điều trị khi ốm đau của người dân tại huyện Khoái Châu ở mức rất cao, lên tới 71,5% tổng số hộ gia đình được điều tra.
  • Cơ sở dịch vụ dược tư nhân không đăng ký chiếm thị phần chi phối với 46,0% lượt lựa chọn, vượt qua hệ thống dịch vụ nhà nước (39,3%) và tư nhân hợp pháp (14,7%).
  • Nghiên cứu phản ánh thực trạng đáng báo động về quản lý dược khi có tới 72,7% lượt mua thuốc kê đơn và 63,6% lượt mua kháng sinh không có chỉ định chuyên môn của bác sĩ.
  • Các phân tích định lượng khẳng định nghề nghiệp, học vấn, khoảng cách địa lý và mức độ bệnh tật là 4 yếu tố chính chi phối hành vi tiếp cận dịch vụ y tế của cộng đồng (p < 0,05).
  • Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực địa 400 mẫu hoàn chỉnh làm căn cứ khoa học cho lộ trình chuẩn hóa và số hóa mạng lưới phân phối dược phẩm tuyến huyện giai đoạn 2025 đến 2030.

Luận văn là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho công tác hoạch định chính sách y tế cơ sở. Các nhà quản lý, nghiên cứu viên và độc giả quan tâm hãy tiếp tục tham khảo và ứng dụng các kết quả của công trình này để nâng cao hiệu quả quản trị hệ thống y tế công cộng.