Tài liệu: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng viêm lợi

Nghiên cứu thực trạng sâu răng, viêm lợi và hiệu quả can thiệp ở học sinh lớp 6 các trường THCS huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2024.

Trường đại học

Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sỹ

2019

169
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng bệnh sâu răng và viêm lợi ở học sinh

Bệnh sâu răng và viêm lợi là những vấn đề sức khỏe răng miệng phổ biến ảnh hưởng đến học sinh trên toàn thế giới và Việt Nam. Theo luận án tiến sỹ Y tế công cộng của Nguyễn Anh Sơn, tình hình bệnh sâu răng ở học sinh lớp 6 tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đang ở mức đáng lo ngại. Tỷ lệ học sinh mắc sâu răng và viêm lợi cao, đặc biệt ở những học sinh không có thói quen vệ sinh răng miệng đúng cách. Các bệnh này không chỉ gây đau đớn mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, khả năng học tập và phát triển tâm lý của học sinh. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng theo độ tuổi, đòi hỏi các biện pháp can thiệp sớm trong môi trường trường học.

1.1. Căn nguyên của bệnh sâu răng

Sâu răng xảy ra khi vi khuẩn trong miệng tấn công mô áp chảy của răng. Quá trình này liên quan đến lượng đường tiêu thụ, vệ sinh răng miệng không tốt, và thiếu kiến thức sức khỏe răng miệng. Các yếu tố chính bao gồm: tiêu thụ thực phẩm có đường cao, không đánh răng đều đặn, thiếu flo hydro, và tình trạng dinh dưỡng kém.

1.2. Nguyên nhân và biểu hiện viêm lợi

Viêm lợi chủ yếu do mảng bám và cao răng gây ra. Các triệu chứng bao gồm chảy máu chân răng, sưng nề lợi, và hôi miệng. Yếu tố nguy cơ chính là vệ sinh miệng không tốt, hút thuốc, stress, và thiếu vitamin C. Viêm lợi, nếu không được điều trị kịp thời, có thể phát triển thành bệnh lợi nặng.

II. Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng và viêm lợi

Nghiên cứu tại huyện Bình Xuyên xác định nhiều yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh sâu răng và viêm lợi ở học sinh. Các yếu tố này bao gồm hành vi, kiến thức, điều kiện xã hội và kinh tế. Kiến thức sức khỏe răng miệng của học sinh và phụ huynh còn hạn chế, chỉ có khoảng 30-40% học sinh biết cách đánh răng đúng. Thói quen ăn đồ ngọt, uống nước có đường thường xuyên là yếu tố nguy cơ chính. Ngoài ra, tình trạng kinh tế của gia đình, trình độ học vấn của bố mẹ, và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng cũng ảnh hưởng lớn. Môi trường sống, vệ sinh cá nhân, và hệ thống nước sạch cũng đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa bệnh.

2.1. Yếu tố kiến thức và hành vi vệ sinh

Mức độ kiến thức sức khỏe răng miệng của học sinh ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi vệ sinh. Học sinh có kiến thức tốt về cách đánh răng, chế độ ăn uống lành mạnh có xu hướng mắc bệnh ít hơn. Thói quen vệ sinh miệng hằng ngày, đánh răng 2 lần/ngày với kem đánh răng có flo hydro là biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.2. Yếu tố chế độ ăn uống và môi trường sống

Chế độ ăn uống giàu đường, nước ngọt, bánh kẹo là yếu tố nguy cơ quan trọng. Gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn có khả năng chăm sóc sức khỏe răng miệng tốt hơn. Môi trường trường học, sự hiện diện của phòng y tế, và chương trình chăm sóc sức khỏe tại trường cũng ảnh hưởng đáng kể.

III. Hiệu quả các biện pháp can thiệp chăm sóc sức khỏe răng miệng

Các biện pháp can thiệp sức khỏe răng miệng tại trường học đã chứng minh hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh. Theo kết quả nghiên cứu năm 2016 tại huyện Bình Xuyên, các chương trình giáo dục sức khỏe, tư vấn vệ sinh miệng, và khám định kỳ có tác động tích cực. Học sinh tham gia chương trình can thiệp có tỷ lệ sâu răng giảm 25-35% so với nhóm đối chứng. Các biện pháp bao gồm: dạy kỹ năng đánh răng, cấp phát kem đánh răng, tư vấn dinh dưỡng, và khám nha khoa định kỳ. Hiệu quả can thiệp tốt nhất khi kết hợp giáo dục với các dịch vụ nha khoa trực tiếp. Các chương trình này cũng giúp phát hiện sớm bệnh nha khoa và hạn chế các biến chứng.

3.1. Giáo dục sức khỏe và thay đổi hành vi

Giáo dục sức khỏe trong trường học là công cụ mạnh mẽ để nâng cao kiến thức học sinh. Các buổi tuyên truyền, lớp học về chăm sóc sức khỏe răng miệng giúp học sinh hiểu rõ tầm quan trọng. Khi học sinh có kiến thức, họ thay đổi hành vi tích cực: đánh răng đều đặn, giảm ăn đồ ngọt, sử dụng chỉ nha khoa.

3.2. Dịch vụ khám và điều trị tại trường

Các dịch vụ nha khoa tại trường giúp phát hiện bệnh sớm. Khám định kỳ, vệ sinh tẩy cao, trám sâu, và tư vấn điều trị là những can thiệp quan trọng. Việc cấp phát kem đánh răng có flo và bàn chải đến học sinh có hiệu quả rõ rệt trong phòng ngừa sâu răng.

IV. Chiến lược phòng ngừa và phát triển sức khỏe răng miệng

Để giảm gánh nặng bệnh sâu răng và viêm lợi ở học sinh, cần có chiến lược toàn diện và lâu dài. Phòng ngừa bệnh nha khoa hiệu quả nhất khi kết hợp ba tầng: phòng ngừa chung (giáo dục sức khỏe cho toàn dân), phòng ngừa cận kề (can thiệp đối với nhóm có nguy cơ cao), và phòng ngừa đặc thù (điều trị bệnh). Tại trường học, cần thiết lập chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng bền vững với sự hỗ trợ của cơ quan y tế địa phương. Đào tạo giáo viên, cán bộ y tế trường, và tham gia của phụ huynh là yếu tố then chốt. Sử dụng công nghệ và dữ liệu để theo dõi tình hình, đánh giá hiệu quả can thiệp, và điều chỉnh chiến lược. Cần thiết lập mục tiêu rõ ràng: giảm tỷ lệ sâu răng DMFT xuống dưới 3 ở học sinh 12 tuổi.

4.1. Vai trò của trường học và cộng đồng

Trường học là nơi lý tưởng để thực hiện chương trình sức khỏe răng miệng. Hợp tác giữa trường, phụ huynh, và cơ quan y tế địa phương tạo môi trường hỗ trợ. Cộng đồng cần tham gia tích cực, hỗ trợ các chương trình, và theo dõi tiến độ thực hiện để đảm bảo hiệu quả can thiệp bền vững.

4.2. Định hướng chính sách và quản lý dài hạn

Cần chính sách hỗ trợ từ Bộ Giáo dục và Bộ Y tế để phòng chống bệnh nha khoa. Cấp bố, ngân sách, nhân lực, và tài liệu học tập cần được đảm bảo. Lập kế hoạch dài hạn 5-10 năm, đánh giá định kỳ, và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn địa phương và đạt các mục tiêu quốc gia.

18/12/2025
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng viêm lợi hiệu quả can thiệp ở học sinh lớp 6 một số trường trung học cơ sở huyện bình xuyên tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Căn nguyên bệnh sâu răng, viêm lợi 1. Căn nguyên bệnh sâu răng Sâu răng là quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu. Trước năm 1970, bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố.

Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là Streptococcus Mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu. Sự phối hợp của các yếu tố này gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ Keys [13], [24]. Thức ăn Vi khuẩn Sâu răng Răng Hình 1. Căn nguyên bệnh sâu răng theo sơ đồ Keys [13] Với sơ đồ Keys, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus Mutans do đó việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn chế đường và vệ sinh răng miệng (VSRM).

Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể. Sau năm 1975, người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên 17 gây bệnh sâu răng và đưa ra sơ đồ White thay thế một vòng tròn trong sơ đồ Keys. - Thức ăn được thay thế bằng chất nền. - Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng.

- Người ta cũng làm sáng tỏ tác dụng của Fluor làm cho tổ chức của răng cứng chắc hơn chống được sự phân huỷ của acid tạo thành tổn thương sâu răng. Dòng chảy, pH quanh răng Chất nền Vi khuẩn Răng Nước bọt Hình 1. Căn nguyên bệnh sâu răng theo sơ đồ White [44] Cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình tái khoáng và huỷ khoáng. Mỗi quá trình đều có một số yếu tố thúc đẩy, nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ dẫn đến sâu răng.

18 Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng + Mảng bám vi khuẩn + Chế độ ăn đường nhiều lần + Thiếu nước bọt hay nước bọt acid + Acid từ dạ dày tràn lên miệng + pH < 5 Các yếu tố bảo vệ + Nước bọt + Khả năng kháng acid của men + F- có ở bề mặt men răng + Trám bít hố rãnh + Độ Ca++, NPO4- quanh răng + pH > 5,5 Hình 1. Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng [44] Có nhiều cách phân loại sâu răng: Phân loại theo vị trí của lỗ sâu trên răng của Black được chia thành 5 loại; phân loại theo diễn biến của sâu răng chia thành sâu răng cấp tính và sâu răng mãn tính. Cách phân loại thông thường được nhiều người ứng dụng là phân loại theo mức độ tổn thương. Sâu men (S1): Tổn thương mới phần men chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ, theo Darling, khi thấy chấm trắng trên lâm sàng thì sâu răng đã tới đường men ngà.

Trên lâm sàng, chúng ta thường khám và phát hiện sâu ngà, khi nhìn thấy lỗ sâu trên lâm sàng thì chắc chắn là sâu ngà. Người ta chia sâu ngà làm 2 loại là sâu ngà nông (S2) và sâu ngà sâu (S3) [13], [44], [45]. Căn nguyên bệnh viêm lợi Viêm lợi là viêm khư trú ở lợi (bờ, nhú lợi, lợi dính) nhưng không ảnh hưởng tới xương ổ răng. Nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn ở mảng bám răng lợi thường là các loại cầu khuẩn và trực khuẩn, vi khuẩn sợi, do virus, do sang chấn và các tác nhân lý học, do mọc răng, do sâu răng không được chữa.

Cặn bám răng hình thành trên bề mặt răng ngay sau khi ăn thức ăn. Cặn bám răng được hình thành và phát triển khi môi trường trong miệng giàu chất dinh dưỡng, nhất là đường Saccharose. Lúc đầu cặn bám răng là vô khuẩn, sau vi khuẩn xâm nhập vào và phát triển thành mảng bám vi khuẩn sau 2 giờ. Ở giai đoạn này, các mảng bám dễ dàng được làm sạch bằng cách chải răng đúng cách.

Thành phần trong mảng bám chủ yếu là vi khuẩn chiếm đến 70% trọng lượng, 30% trọng lượng còn lại là chất tựa hữu cơ. Hai ngày đầu chủ yếu là vi khuẩn Gram dương, hai ngày tiếp theo là vi khuẩn hình sợi và hình thoi phát triển và ngày thứ tư đến ngày thứ chín có xoắn khuẩn. Chiều dày mảng bám răng thay đổi từ 100 - 200μm. Các vi khuẩn xâm nhập vùng quanh răng gây viêm, phá hủy tổ chức, tác động của chúng có thể là trực tiếp do hoạt động của vi khuẩn sản sinh ra các men, nội độc tố, các sản phẩm đào thải.

và cũng có thể là gián tiếp do vai trò kháng nguyên của chúng. Viêm lợi xuất hiện rất sớm khi cặn bám răng hình thành được 7 ngày. Bệnh biểu hiện rất đa dạng, viêm phá hủy nhú lợi, viền lợi và lợi bám dính, lợi có thể viêm đỏ, viêm thanh dịch, viêm loét, viêm phì đại và có các thể viêm đặc hiệu do lao và giang mai. Viêm lợi nặng thường đau và dễ chảy máu khi ăn, khi chải răng, mút chíp và chảy máu tự nhiên, người bệnh thường ngại VSRM, đặc biệt là viêm lợi miệng Herpes.

Ngoài nguyên nhân chính do vi khuẩn còn có các nguyên nhân khác như do yếu tố vật lý, cơ học, hóa học, sang chấn ở lợi… 20 Có nhiều loại bệnh viêm lợi, nhưng về mặt tiến triển, người ta chia làm 2 loại là viêm lợi cấp tính và viêm lợi mãn tính. Viêm lợi cấp tính với các đặc điểm lợi phù nề, mạch máu xung huyết và tăng sinh làm bờ lợi phồng lên, đôi khi quá sản màu đỏ và bề mặt lợi căng, nhẵn, không thấy sần lấm tấm như vỏ cam, trương lực giảm, mất độ săn chắc. Đau tại vùng viêm và đau lan, đau nhức. Chảy máu khi thăm khám, đôi khi chảy máu tự nhiên khi mút chíp.

Viêm lợi mãn tính xảy ra khi viêm cấp không được điều trị triệt để, bệnh chuyển sang mãn tính. Lợi phù nề ít, màu đỏ tươi ở đường viền quanh răng hoặc tái nhạt, trương lực kém, bờ lợi bong, có khi lợi phì đại. Có dịch rỉ viêm đặc hoặc mủ, miệng hôi. Đau ít hoặc không.

Thăm túi lợi có chảy máu và chảy máu khi mút chíp, không chảy máu tự nhiên [44], [45]. Tình hình bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh 12 tuổi trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh 12 tuổi trên thế giới 1. Tình hình bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi trên thế giới Bệnh sâu răng và bệnh viêm lợi là bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng miệng.

Sâu răng vẫn còn là một vấn đề sức khỏe ở các nước công nghiệp vì nó ảnh hưởng đến 60% - 90% trẻ em trong độ tuổi đi học và đa số các thanh thiếu niên. WHO đã xây dựng hệ thống giám sát bệnh răng miệng trên toàn thế giới, đặc biệt quan tâm đến sâu răng ở trẻ em [107], [108]. Bản đồ phân bố mức độ sâu răng trẻ em lứa tuổi 12 trên thế giới đầu tiên được công bố vào năm 1969 với chỉ số đánh giá là SMT cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh sâu răng ở các nước công nghiệp hóa cao và thấp hơn ở các nước đang phát triển. Cơ sở dữ liệu đó tiếp tục được cập nhật trong các năm tiếp theo (1980, 1985, 2001, 2004, 2011 và 2015) với dữ liệu ngày càng lớn từ các nghiên cứu dịch tễ học về sự thay đổi tỷ lệ sâu răng, tức là tăng bệnh sâu răng ở một số nước phát triển và giảm ở nhiều nước công nghiệp hóa.

Bản đồ phân bố mức độ sâu răng trẻ em 12 tuổi trên thế giới năm 2015 [110] Ghi chú: Very low Rất thấp < 1,2 Low Thấp 1,2 – 2,6 Moderate Trung bình 2,7 – 4,4 High Cao > 4,4 No data available Không có số liệu hiện có Hình 1.4 cho thấy phân bố mức độ sâu răng trẻ em lứa tuổi 12 trên thế giới được WHO cập nhật và công bố năm 2015 với số liệu của 209 quốc gia và vũng lãnh thổ. Đối với các nước phát triển tình trạng sâu răng ngày càng giảm, các nước đang phát triển biến động theo từng năm. Sự giảm này là do kết quả của việc thực hiện một số biện pháp y tế công cộng, hiệu quả của việc sử dụng Fluor cùng với việc thay đổi điều kiện sống, lối sống và tự thực hành chăm sóc vệ sinh cá nhân được cải thiện [108].5 0 AFRO AMRO EMRO EURO SEARO WPRO Global Năm 2004 Năm 2011 Năm 2015 Hình 1. Chỉ số SMT của trẻ em 12 tuổi trên thế giới năm 2004 - 2015 [108] Ghi chú: AFRO African region Khu vực Châu Phi AMRO Region of the Americas Khu vực Châu Mỹ EMRO Eastern mediterrean region Khu vực Địa Trung Hải EURO European region Khu vực Châu Âu SEARO South-east asia region Khu vực Đông Nam Á WPRO Western pacific region Khu vực Tây Thái Bình Dương GLOBAL Tất cả các khu vực Hình 1.5 cho thấy tỷ lệ sâu răng (đánh giá bằng chỉ số SMT) ở các khu vực trên thế giới trong các năm 2004, 2011 và 2015.

Đối với các nước phát triển, chỉ số SMT tương đối cao nhưng xu hướng giảm như Châu Mỹ là 2,76, 2,35, 2,08 tương ứng các năm 2004, 2011 và 2015; khu vực Châu Âu là 2,57, 1,95, 1,81 tương ứng các năm 2004, 2011 và 2015. Chỉ số SMT ở trẻ em 12 tuổi khu vực Đông Nam Á có xu hướng tăng trong các năm, cụ thể là 1,61 (năm 2004), 1,87 (năm 2011) và 2,97 (năm 2015) [108]. 23 Rất cao (>6,6) Các nước đang phát triển Các nước phát triển Cao (4,5-6,5) Trung bình (2,7-4,4) Thấp (1,2-2,6) Rất thấp (0-1,1) Hình 1. Khuynh hướng phát triển của bệnh sâu răng [108] Hình 1.6 cho thấy khuynh hướng phát triển của bệnh sâu răng, hiện nay có hai khuynh hướng rõ rệt.

Ở các nước phát triển, tình trạng sâu răng có khuynh hướng giảm như Mỹ, Đức. Có được điều này là do nước này đã tích cực sử dụng Fluor dưới nhiều hình thức để phòng sâu răng. Ở các nước đang phát triển, sâu răng có chiều hướng tăng lên trừ một số nước như Hồng Kông, Singapore, Malayxia, Thái Lan là những nước đang phát triển nhưng sâu răng lại giảm do đã sử dụng Fluor để phòng sâu răng, như Singapore đã Fluor hóa nước máy 100% [106], [108]. Theo nghiên cứu về tình trạng bệnh sâu răng ở một số nước trên thế giới cũng đã cho thấy tỷ lệ sâu răng của trẻ em 12 tuổi khá cao.

Santa Maria, Brazil (2016) tỷ lệ sâu răng là 49,9%, chỉ số SMT là 1,15 [65].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ