ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ mổ lấy thai ở một số nước châu Âu như Đức, Pháp là 20%, Tây Ban Nha là 26%, Ý là 33%. Cá biệt, tỷ lệ này ở một số nước châu Mỹ lên tới trên 60% (Mexico là 60%; Venezuela là 70%). Theo một số nghiên cứu, tỷ lệ mổ lấy thai ở Việt Nam những năm gần đây chiếm trên 50% tổng số ca sinh. Trong số những ca đẻ thường còn lại, tỷ lệ có can thiệp bằng việc cắt – khâu tầng sinh môn trên thế giới là 85% – 90% (1).
Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y Tế năm 2018, tỷ lệ này là 55 – 60% (1). Tính riêng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, 95% số ca sinh là mổ lấy thai hoặc có can thiệp cắt tầng sinh môn. Các kết quả trên cho thấy, đa số sản phụ sau sinh đều mang trên mình những vết thương do can thiệp y tế trong quá trình sinh nở. Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là hậu quả không mong muốn thường gặp nhất đối với sản phụ có vết thương sau sinh (2,3).
Những sản phụ bị NKVM sau sinh phải chịu thêm gánh nặng bệnh tật mới, đồng thời có khả năng trở thành nguồn lây nhiễm trong bệnh viện (4). Bên cạnh đó, NKVM, nhiễm khuẩn tầng sinh môn (NKTSM) làm tăng thời gian nằm viện, gây tốn kém, người phụ nữ sau sinh phải cần thêm người chăm sóc con và chăm sóc chính bản thân mình. NKVM cũng gây sẹo xấu, ảnh hưởng tới thẩm mỹ và chức năng thành bụng (5). Tuy gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đối với người bệnh nói chung và sản phụ nói riêng nhưng NKVM, NKTSM có thể được phòng ngừa và điều trị hiệu quả bằng nhiều phương pháp.
Trong bối cảnh tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng gây khó khăn trong điều trị, việc nghiên cứu những ứng dụng có khả năng diệt vi sinh vật để hỗ trợ hay thay thế một phần cho điều trị kháng sinh là xu hướng được quan tâm (6,7). Một trong những phương pháp mới đã được chứng minh hiệu quả là việc sử dụng tia plasma lạnh trong hỗ trợ điều trị vết thương. Loại tia này là có tác dụng phá vỡ hoặc xâm nhập qua màng tế bào, tiêu diệt hoặc ức chế hoạt động của vi khuẩn, virut và nấm; kích thích tăng sinh tế bào, tái sinh mô, hình thành tân mạch trong khi hạn chế tối đa nguy cơ do dùng kháng sinh và các tác hại khác trên người bệnh (8). Với những ưu điểm trên, năm 2017, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn quy trình hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed, áp dụng cho các cơ sở khám 1 2 bệnh, chữa bệnh trong cả nước (8).
Cho đến nay, PlasmaMed là máy phát ra tia plasma lạnh đầu tiên và duy nhất được kiểm chứng về hiệu quả trong điều trị vết thương và được cấp giấy đăng ký bản quyền trong nước. Ngay sau quyết định của Bộ được ban hành, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xây dựng quy trình riêng dành cho sản phụ sau đẻ và sau mổ đẻ để đưa quy trình này vào thực hiện từ tháng 6 năm 2017 (9). Cho đến nay, quy trình đã được sửa đổi 2 lần nhằm tối ưu hóa tác dụng của việc thực hiện quy trình đối với sản phụ sau đẻ. Quy trình này cũng đã được đưa vào gói dịch vụ của Bệnh viện, được tư vấn triển khai gần như 100% trên những sản phụ có vết thương sau sinh không có các vấn đề chống chỉ định (1).
Theo báo cáo của Phòng Điều dưỡng Bệnh viện năm 2018, 95,7% sản phụ sau đẻ, sau mổ tại Bệnh viện được chiếu tia plasma (khoảng 22.000 sản phụ sau mổ và 17000 sản phụ đẻ thường có cắt tầng sinh môn). Mặc dù đã trở thành một dịch vụ phổ biến tại Bệnh viện, tuy nhiên, từ khi triển khai thực hiện quy trình đến nay, tại Bệnh viện chưa có bất kỳ khảo sát, đánh giá nào ghi nhận cụ thể việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma đối với nhân viên y tế (NVYT). Bên cạnh đó, dù đã nỗ lực tìm kiếm, nghiên cứu chưa tìm kiếm được các tài liệu hoặc các nghiên cứu đã được công bố đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đánh giá về thực trạng tuân thủ và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình trong lĩnh vực y tế đã chỉ ra, việc tuân thủ các quy trình chuẩn đã được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng dịch vụ cũng như đảm bảo việc phát triển dịch vụ của cơ sở y tế.
Do vậy việc tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020” là cần thiết để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, đảm bảo dịch vụ tại bệnh viện ngày càng tốt hơn. 2 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức về việc thực hiện quy trình và tác dụng chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2020. Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Vết thương sau đẻ của sản phụ 1.
Vết đau tầng sinh môn Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ thực hiện cắt tầng sinh môn nhằm mở rộng đường ra cho thai nhi khi sinh qua âm đạo, ngăn ngừa một số tổn thương và chấn thương nghiêm trọng cho âm đạo, âm hộ khi sinh. Bác sĩ thực hiện thủ thuật này bằng cách: gây tê vùng âm hộ và dùng kéo cắt một đường dài từ 3 - 5cm (từ mép âm hộ đi thẳng xuống vùng hậu môn hướng 6 giờ, hoặc một đường chéo hướng 7 giờ) khi có cơn gò và đầu thai nhi áp sát vào vùng tầng sinh môn. Sau khi sinh em bé, bác sĩ sẽ khâu lại vết cắt. Rạch tầng sinh môn giúp cho việc chuyển dạ nhanh và dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, sau sinh, vị trí này có thể bị đau trong vài ngày hoặc vài tuần, nhất là khi sản phụ phải chuyển động hay có các hoạt động đơn giản khác. Mổ lấy thai Mổ lấy thai là phẫu thuật lấy thai nhi, nhau và màng ối qua một vết mổ ở thành bụng vào tử cung đang nguyên vẹn. So với sinh ngả âm đạo, mổ lấy thai được áp dụng trong những trường hợp cấp bách, cần thiết phải lấy thai ra nhằm làm giảm những nguy hiểm cho thai nhi và người mẹ (11). Chăm sóc vết thương sau đẻ Chăm sóc vết thương là thực hiện chăm sóc chuyên môn y tế để phòng ngừa biến chứng gây ra cho vết thương và cải thiện sự lành vết thương.
Chăm sóc vết thương là một trong những kỹ thuật cơ bản trong sóc người bệnh của điều dưỡng. Chăm sóc vết thương tốt đúng quy trình giúp cho người bệnh phục hòi sức khỏe nhanh chóng, kiểm soát nhiễm khuẩn, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, tăng niềm tin của người bệnh vào chăm sóc y tế và NVYT (1,12). Chăm sóc vết thương bao gồm chăm sóc các lại vết thương từ đơn giản đến phức tạp như vết thương sạch, vết thương nhiễm khuẩn, hoại tử, loét ép, (loét tỳ), vết thương có chỉ khâu, vết thương có ống dẫn lưu, vết thương ghép da. Bên cạnh hiểu biết cơ chế liền thương, hiểu biết và nắm chắc kỹ năng thực hành quy trình thay băng., người điều dưỡng, hộ sinh cần phải hiểu biết tính năng và sử dụng các 4 5 loại sản phẩm chăm sóc vết thương như băng, gạc để che chở và bảo vệ vết thương hoặc sử dụng kỹ thuật mới bằng máy như máy plasmaced để hỗ trợ cho việc lành vết thương diễn ra một cách tốt nhất.
Việc chăm sóc tầng sinh môn và vết khâu sau đẻ phải hết sức chu đáo. Nên giữ cho vết khâu luôn được sạch và khô giúp tầng sinh môn, vết thương liền tốt. Phải đóng khố sạch, thay khố 3 - 4 lần trong ngày bằng nước chín, lau sạch và thấm khô vùng âm hộ tầng sinh môn nhất là sau mỗi lần đại tiểu tiện. Tại vết khâu không nên dùng các loại thuốc nước hay thuốc mỡ.
Kiểm tra vết khâu hàng ngày nếu khô liền tốt thì cắt chỉ vào ngày thứ 5 (trong trường hợp khâu chỉ line). Tia Plasma Trong vật lý, Plasma là trạng thái thứ tư của vật chất (các trạng thái khác là rắn, lỏng, khí), trong đó có các chất bị ion hóa mạnh. Đại bộ phận phân tử hay nguyên tử chỉ còn lại hạt nhân các electron chuyển động tương đối tự do giữa các hạt. Plasma không phổ biến trên Trái Đất, tuy nhiên 99% vật chất được tìm thấy trong vũ trụ tồn tại dưới dạng plasma, vì thế trong bốn trạng thái vật chất, Plasma được xem như trạng thái đầu trong vũ trụ được mô tả đầu tiên vào năm 1879 bởi nhà hóa học và vật lý người Anh William Croockes (13).
Thuật ngữ “plasma” xuất phát từ tiếng Hi Lạp và được giới thiệu vào năm 1928 bởi Irving Langumir, là một hỗn hợp nhiều thành phần của khí bị ion hóa gồm: các diện tích dương và âm cân bằng và không kết hợp với nhau, các gốc tự do, tia cực tím, điện từ trường, ánh sáng nhìn thấy và nhiệt độ (14). Quy trình và ý nghĩa của việc tuân thủ quy trình Theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO, quy trình (Procedure) “là một phương pháp cụ thể để thực hiện một hoặc nhiều các hoạt động có tương tác nhằm biến đổi đầu vào thành đầu ra”. Các quy trình luôn được thiết lập trong các cơ quan đơn vị, được thể hiện và ban hành bằng văn bản nhằm thực hiện và kiểm soát các quá trình của công việc, để công việc mang lại nhiều hiệu quả hơn, ít xảy ra sai sót cũng như hạn chế các sự cố ngoài ý muốn. Trong lĩnh vực y tế, quy trình còn thể hiện thước đo đánh giá chất lượng của cơ sở y tế, là cơ sở để kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện công việc cũng 5 6 như là bằng chứng khi xảy ra các sự cố y khoa.