Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn mới - Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí là: Tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí trường học; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí chợ nông thôn; tiêu chí về bưu điện; tiêu chí về nhà ở dân cư; tiêu chí về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường; tiêu chí về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội.[5] - Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 4/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể bổ sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nhưng không được thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia.
Khái niệm về xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn, nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hóa tinh thần tốt, có bộ mặt nông thôn hiện đại. Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu về nông thôn mới, nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam. Nhìn chung, mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa và dân chủ hóa. 5 Theo Quyết định số 491, 342 và Quyết định 800/Q Đ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới.
Đơn vị nông thôn mới Tại Quyết định 491/Q Đ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định đơn vị nông thôn mới có 3 cấp: - Xã nông thôn mới (đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia NTM); - Huyện nông thôn mới (khi có 75% số xã nông thôn mới); - Tỉnh nông thôn mới (khi có 80% số huyện nông thôn mới). Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung Ương kiểm tra việc công nhận xã Nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới và tỉnh có 80% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới. Chức năng của nông thôn mới 1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại Chức năng cơ bản của nông thôn mới là sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao.
Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần 6 nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn. Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống Nông thôn được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống.
Quy tắc hành vi của xã hội gồm những người quen và những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời. Ở đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất. Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai. Từ chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quê hương vv., tất cả đều được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù.
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn; việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống. Chức năng sinh thái Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Thành thị là hệ thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất.
Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đó khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên. Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng. Quá trình 7 công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên. Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên.
Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái. Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn. Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn. Chủ thể xây dựng nông thôn mới Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, người nông dân thực sự là chủ thể xây dựng nông thôn, người nông dân phải tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá trình làm ra của cải vật chất, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc… đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của nông thôn mới.
Chính vì vậy, nông dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới là yếu tố vừa đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới thành công, vừa đảm bảo phát huy được vai trò tích cực của nông dân. Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới 1. Động lực từ công nghiệp hóa và đô thị hóa Xây dựng nông thôn mới XHCN nếu chỉ dựa vào nguồn đầu tư từ nhà nước hay chỉ tiến hành trong nội bộ nông thôn sẽ không tạo ra được động lực cũng như tính linh hoạt, mà cần phải đặt nó trong bối cảnh phát triển thành thị và nông thôn đồng hành với nhau, dựa trên những quan điểm hệ thống. Thực tế, các vấn đề về nông nghiệp cần phải được giải quyết thông qua phát triển công nghiệp, các vấn đề về nông dân phải giải quyết thông qua phi nông hóa, phát triển nông thôn phải song hành cùng phát triển thành thị.
Điều này cũng có nghĩa là việc giải quyết vấn đề “tam nông” không thể chỉ bó hẹp trong nội 8 bộ nông thôn và nông nghiệp, mà cần phải xây dựng nên quan niệm phát triển thành thị và nông thôn song hành với nhau, xóa bỏ mọi ngăn cách giữa thể chế nông thôn với thành thị, phải đưa vấn đề phát triển nông nghiệp vào trong bố cục phát triển kinh tế quốc dân, đưa tiến bộ nông thôn vào tiến bộ chung của toàn xã hội, phải xem xét mục tiêu gia tăng thu nhập nông dân trong hệ thống phân phối và tái phân phối thu nhập quốc dân. Chỉ có như vậy mới có thể giải quyết triệt để bản chất của các vấn đề “tam nông”. Từ ý nghĩa này có thể thấy, các công trình xây dựng cải tạo nông thôn cho dù cũng rất quan trọng, nhưng không thể coi đó là động lực đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới XHCN. Xây dựng nông thôn mới cần phải kết hợp chặt chẽ với đô thị hóa và công nghiệp hóa mới có sức mạnh và đảm bảo tính liên tục.
Do vậy, đối với sự nghiệp xây dựng nông thôn mới XHCN, nhà nước cần phải ra các chính sách nhằm gia tăng sức thu hút của thành thị, xóa bỏ các chính sách gây cản trở đến sự chuyển dịch lao động và ngành nghề sang khu vực thành thị, không nên cố định các ngành nghề công nghiệp tại các khu vực nông thôn. Động lực từ nông dân phi nông hóa Quá trình đi lên hiện đại hóa của một quốc gia cũng chính là quá trình chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đồng thời cũng là quá trình người nông dân tự do chuyển đổi thân phận của mình. Trong quá trình này, nguồn lực lao động sẽ chuyển dịch không ngừng từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, từ nông thôn sang thành thị, đó cũng chính là quá trình phi nông hóa người nông dân. Giải quyết vấn đề việc làm cho người nông dân là một sự nghiệp to lớn, bên cạnh các biện pháp khai thác tiềm năng cung cấp cơ hội việc làm từ chính trong nội bộ nông thôn ra, còn cần phải tích cực đẩy mạnh chuyển dịch nông dân sang thành cư dân thành thị.
Muốn vậy, cần thiết phải xây dựng hình thành nên thị trường lao động bình đẳng giữa nông thôn với thành thị, để người nông dân có những cơ hội làm việc bình đẳng như cư dân thành thị, đồng thời tạo điều kiện để họ có thể 9 gia tăng tố chất cạnh tranh trên con đường mưu cầu việc làm của mình. Do vậy, xây dựng nông thôn mới XHCN cần phải đẩy mạnh đầu tư cho nguồn lực lao động nông thôn, phải lấy việc đẩy mạnh dịch chuyển nông dân làm cơ sở, chứ không phải lấy việc cố định người nông dân làm mục tiêu.