Đặt vấn đề Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề đáng lo ngại của toàn cầu. Trong vài năm gần đây với thời kỳ công nghiệp hóa hiện - đại hóa toàn cầu, các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển như vũ bão và vấn đề ô nhiễm ngày càng gia tăng. Nhiều hội nghị quốc tế được tiến hành họp bàn về hợp tác giữa các quốc gia trong vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống cho con người và trong đó rác thải sinh hoạt của con người được quan tâm nhiều nhất vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của con người. Ở nước ta trong mấy chục năm gần đây nhờ sự đổi mới về chính sách của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, bộ mặt xã hội do đó có nhiều chuyển biến tích cực.
Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở những thành phố, khu đô thị lớn ở nước ta mà đang mở rộng ra các huyện lân cận. Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống người được cải thiện đáng kể, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội ngày càng cao. Điều này đồng nghĩa với việc gia tăng về lượng rác thải sinh hoạt. Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm.
Cùng với cả nước, ban lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn trong những năm gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường… n 2 Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển, dân số gia tăng nhu cầu tiêu thụ cũng tăng lên, theo đó lượng phát sinh rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều. Lượng tài nguyên thiên nhiên và các nguồn của cải khác được sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất có thể định lượng được nhưng mức độ gây ô nhiễm từ lượng chất thải được thải ra thì khó có thể xác định được, do đó xã hội ít quan tâm. Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, làm mất cảnh quan văn hóa đô thị và nông thôn… Hiện nay, tình trạng rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng tại thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn chưa có đánh giá một cách đầy đủ dẫn tới việc thu gom và quản lý rác thải gặp nhiều khó khăn và chưa có biện pháp xử lý rác phù hợp cũng như công tác bảo vệ môi trường hiệu quả. Xuất phát từ những thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường , Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.
Nguyễn Thanh Hải, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Dựa trên thực trạng công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Chợ Mới từ đó làm cơ sở khoa học và thực tiễn để hướng dẫn cộng đồng khu dân cư có ý thức thói quen thu gom, phân loại rác thải tại nguồn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Mục tiêu cụ thể - Thực trạng công tác xử lý và thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Chợ Mới.
n 3 - Thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Chợ Mới. - Đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức ký năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình xử lý và quản lý rác thải trên địa bàn thị trấn Chợ Mới. - Đề xuất một số biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Các khái niệm liên quan 2. Chất thải Theo quy định tại khoản 12 điều 3 luật BVMT 2014 thì: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” [3]. Phụ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, chất thải có thể được phân chia thành các loại như sau: - Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thể chia thành 3 loại: chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải công nghiệp.
- Căn cứ vào trạng thái tồn tại của chất thải có thể chia thành: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí và các chất thải ở trạng thái khác. - Căn cứ vào độ độc hại của chất thải, chia thành 2 loại: chất thải thông thường và chất thải nguy hại. Chất thải rắn Theo Nghị định 59/5007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn thì: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [4]. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
- CTR phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. n 5 - CTR phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. Các hoạt động kinh tế - xã hội của con người Các quá Các quá Hoạt động Các hoạt Các hoạt trình sản trình phi sống và tái động quản động giao sinh của con tiếp và đối xuất sản xuất người lý ngoại Chất thải Dạng lỏng Dạng khí Dạng rắn Bùn Chất Hơi Chất Các cống lỏng độc thải loại dầu sinh khác mỡ hoạt Hình 2. Chất thải rắn sinh hoạt Theo điều 3 Nghị định 59/5007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn [4].
Chất thải phát sinh trónginh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. - Rác thải sinh hoạt: RTSH là các chất thải có liên quan tới các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trương học, các trung tâm dịch vụ thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có n 6 thành phần bao gồmcả kim loại, giấy vụn, sành sứ. (Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự, 2001) [9] Nhà dân, khu Cơ quan trường Nơi vui chơi, dân cư học giải trí Bệnh viên, cơ Chợ, bến xe, Rác thải sở y tế nhà ga Giao thông, xây Chính quyền Khu công dựng địa phương nghiệp, nhà máy, xí nghiệp Hình 2.
Sơ đồ phát sinh chất thải[9] 2. Quản lý chất thải Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con ngườ [4]. n 7 Quản lý chất thải cũng góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải. Quản lý chất thải có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất thải phóng xạ, mỗi loại được quản lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Quản lý môi trường Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia[6]. Các căn cứ pháp lý liên quan - Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Luật Bảo vệ môi trường, 2014 ban hành ngày 23/01/2014 có hiệu lực ngày 1/1/2015. - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2014.
- Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 5/6/2011 của Chính phủ về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều luật của luật Bảo vệ môi trường. - Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006. - Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng chính phủ về thu gom và quản lý chất thải rắn có ghi: “Khuyến khích 100% đô thị thực hiện công tác xã hội hóa công tác quản lý, xử lý chất thải rắn thông qua cơ chế đặt hàng hay đấu thầu dịch vụ trên cơ sở đảm bảo môi trường và an ninh môi trường”. - Nghị định 25/2013/NĐ-CP của Chính phủ về phí Bảo vệ môi trường đối với chất thải.
n 8 - Nghị định 04/2007/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003. - Thông tư 39/2008/NĐ-CP về phí Bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn. - Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 9/7/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn.
Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình quản lý và xử lý rác thải trên thế giới 2.Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới Ở các nước phát triển, dân số thường có đời sống cao và tỷ lệ dân số sống ở các đô thị lớn, trung bình tiêu chuẩn rác thải của mỗi người dân là 2,8kg/người/ngày (Tổ chức y tế thế giới, 1992). Mức độ đô thị hóa cao thì chất lượng tăng lên theo đầu người, ví dụ cụ thể một số quốc gia hiện nay như sau: Canda là 1,7kg/người/ngày; Australia là 1,6kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3kg/người/ngày; Trung quốc là 1,3kg/người/ ngày. Với sự gia tăng đó thì việc thu gom, xử lý và phân loại rác thải là điều mà mọi quốc gia đều quan tâm.
Trên thế giới đã có một số nước có những mô hình hiệu quả về phân loại và xử lý rác thải: - California: Nhà quản lý cung cấp tới từng gia đình nhiều thùng rác khác nhau. Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3lần/tuần với chi phí 16,39$/thùng.