CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
- Xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, một trong những cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đối với khu vực và Quốc tế, một khu vực phát triển năng động của kinh tế ven biển và biển, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; có thế và lực ngày càng lớn thúc đẩy sự phát triển và khả năng cạnh tranh. - Phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu. Nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dich vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế giữ vai trò chủ đạo của Tỉnh. Phát huy tối đa thế mạnh về du lịch, giải quyết hài hoà giữa phát triển du lịch với các lĩnh vực khác; trong đó, ưu tiên phát triển du lịch, phải giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường.
Coi trọng hàng đầu việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tích cực chuẩn bị tốt tiền đề để phát triển nhanh và bền vững hơn sau năm 2010. - Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá xã hội, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy tiến bộ và thực hiện công bằng xã hội đặc biệt chu ý đến vùng núi hải đảo và vùng đồng bào dân tộc ít người trước hết là nâng cao dân trí và mức sống vật chất tinh thần của nhân dân. - Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường bảo đảm phát triển bền vững. Phát triển kinh tế phải bảo đảm tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh; đặc biệt chú trọng giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo và thềm lục địa về quyền lợi kinh tế, giữ vững chủ quyền quốc gia.
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 Từ nay đến năm 2020, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả để thực hiện công nghiệp hoá trước năm 2020. - Tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2006-2010 đạt khoảng 13% thời kỳ 2011-2020 khoảng14,2%. GDP bình quân đầu người vào năm 2010 (giá so sánh năm 1994) đạt 950 USD, năm 2020 đạt trên 3. - Tỷ lệ tích luỹ đầu tư lên 40% so với GDP vào năm 2010, đáp ứng 75% nhu cầu vốn đầu tư phát triển.
- Thực hiện tốt công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm phát triển y tế, giáo dục -đào tạo, văn hoá thể dục- thể thao v. Như đã nêu ở trên mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 là đẩy mạnh phát triển tăng dần tỷ trọng ngành Công nghiệp, Dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Định hướng tốc độ tăng trưởng ngành Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tới năm 2020 là bằng 0, ngành Công nghiệp, xây dựng tới năm 2020 là 14,3%, ngành Dịch vụ là 14,7%. Do vậy việc trong những năm tới việc Nhà thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ phát triển các ngành Công nghiệp, dịch vụ sẽ được đẩy mạnh, đặc biệt là trên địa bàn các thành phố trung tâm của tỉnh Quảng Ninh như: Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, Cẩm Phả…Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến người nông dân sinh sống và canh tác nông nghiệp trong khu đô thị vì họ bị thu hồi hết tư liệu sản xuất và bị trở thành người thất nghiệp.
Tuy nhiên mỗi người đều cần có một nghề để nuôi sống bản thân và gia đình, người nông dân cũng vậy, họ đang sống bằng nghề làm ruộng, khi bị Nhà nước thu hồi đất thì họ phải chuyển sang nghề khác, tuy nhiên việc chuyển sang nghề khác phù hợp với mỗi người người nông dân là không dễ. n 5 Từ cơ sở lý luận nêu trên tôi nhận thấy việc nghiên cứu giải pháp chuyển đổi nghề cho người dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói chung và tại thành phố Hạ Long nói riêng là hết sức cần thiết. Cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Định hướng chung phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020.
Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 là đẩy mạnh phát triển tăng dần tỷ trọng ngành Công nghiệp, Dịch vụ và giảm dần tỷ trong ngành nông nghiệp. Định hướng tốc độ tăng trưởng ngành Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tới năm 2020 là bằng 0, ngành Công nghiệp, xây dựng tới năm 2020 là 14,3%, ngành Dịch vụ là 14,7%. Việc phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu. Nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dich vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh sẽ dẫn đến có hàng nghìn người nông dân mất đất sản xuất, mất kế sinh nhai và bị thất nghiệp, đặc biệt là người nông dân sinh sống và sản xuất nông nghiệp trong các khu đô thị.
Việc chuyển đồi nghề cho người nông dân là hết sức khó khăn vì trình độ và năng lực của họ khác nhau rất nhiều, việc chuyển sang nghề khác phù hợp với mỗi người người nông dân là không dễ vì thực tế tại thành phố Hạ Long: * Đa phần đội tuổi của người nông dân sau khi bị thu hồi hết đất sản xuất nông nghiệp là khá cao từ 36-50 tuổi (là độ tuổi mà người ta đã ổn định cuộc sống và không muốn có sự thay đổi trong công việc) nên tạo ra một tâm lý e ngại của người nông dân khi phải chuyển đổi sang các ngành nghề khác, bời họ nghĩ rằng họ đã nhiều tuổi để bắt đầu một công việc mới từ đầu. - Cơ cấu về tuổi: + Từ 35 tuổi trở xuống: 12,4 % + Từ 36 – 43 tuổi: 40,7 % n 6 + Từ 44 – 50 tuổi: 26,8 % + Từ 51 tuổi trở lên: 20,1 % * Đa phần người nông dân đều có trình độ học vấn không cao (thậm chí nhiều người nông dân còn không biết chữ) vì vậy nên việc đào tạo chuyển đổi nghề cho họ sẽ bị hạn chế rất nhiều. - Trình độ học vấn: + Dưới THPT: 76,5% + THPT: 15,3% + Trên THPT: 8,2% * Sự chuyển đổi phương thức sản xuất cũng là một khó khăn lớn bởi người nông dân thiếu những kỹ năng nghề nghiệp khác ngoài nông nghiệp. Việc chuyển đổi sang các ngành nghề khác như thủ công nghiệp, mỹ nghệ, nghề truyền thống khác khó khả thì vị họ đều không có kinh nghiệm và bí quyết làm nghề.
Khó khăn là như vây, tuy nhiên, thực tế cho thấy ở đâu có những giải pháp phù hợp thì ở đó người nông dân bị thu hồi đất sẽ sang làm nghề mới có thu nhập ổn định và cao hơn. Điều này đã được thấy tại thành phố Đà Nẵng và huyện Từ Liêm mà tôi đã dẫn chứng cụ thể tại mục 1. Sơ lược về tình hình chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất nông nghiệp tại một số địa phương tại Việt Nam”. Cơ sở pháp lí của đề tài + Luật Đất đai 2003 (Luật Đất đai); + Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003; Trên cơ sở Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều.
n 7 Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất với nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định 22, trong đó quy định “giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng” do UBND tỉnh quy định. Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Nghị Định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật. Ngày 13/8/2009 Chính Phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 11/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; Tại Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định: 1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau: a) Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp…. Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động.