Luận văn thạc sĩ ueh thực trạng triển khai chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố hồ chí minh giai đoạn 2010 2015

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng triển khai chương trình bình ổn thị trường lương thực thực phẩm tại TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2015.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2015

79
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ Ở VIỆT NAM

1.1. Lý luận về giá cả, giá cả thị trường và các nhân tố ảnh hưởng

1.2. Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của C.

1.3. Giá cả thị trường

1.4. Đặc trưng của giá cả thị trường

1.5. Một số nghiên cứu khoa học về bình ổn giá

1.6. Điều hành giá các mặt hàng thiết yếu ở Việt Nam hiện nay

1.7. Chủ trương quản lý giá trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta

1.8. Khuôn khổ pháp lý

1.9. Kinh nghiệm điều hành giá trên cả nước do các cơ quan trung ương thực hiện

1.10. Điều hành giá tại các địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện

1.11. TÓM TẮT CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC MẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Khái quát Chương trình Bình ổn thị trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Từ nhận thức “bình ổn giá” đến nhận thức “bình ổn thị trường”

2.3. Ý nghĩa của Chương trình Bình ổn thị trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.4. Nội dung thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.5. Công tác xác định mặt hàng thực hiện bình ổn thị trường

2.6. Công tác dự báo, đánh giá thị trường

2.7. Phương thức tạo nguồn cung hàng hóa để bình ổn thị trường

2.8. Lựa chọn doanh nghiệp tham gia Chương trình Bình ổn thị trường

2.9. Chính sách hỗ trợ thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất

2.10. Chính sách kết nối cung – cầu với các tỉnh, thành

2.11. Phân phối hàng hóa bình ổn thị trường

2.12. Giá bán hàng bình ổn thị trường

2.13. Kiểm tra giá bán

2.14. Nguồn vốn thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường

2.15. Phân công, phối hợp tổ chức triển khai thực hiện

2.16. Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2014

2.17. Đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu

2.18. Những mặt tích cực

2.19. Những mặt hạn chế

2.20. Nguyên nhân tồn tại

2.20.1. Nguyên nhân khách quan

2.20.2. Nguyên nhân chủ quan

2.21. Bài học kinh nghiệm

2.22. TÓM TẮT CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CÁC MẶT HÀNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM THIẾT YẾU TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM GIAI ĐOẠN 2015 – 2025

3.1. Quan điểm, định hướng

3.2. Định hướng thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường

3.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2025

3.4. Nâng cao hiệu quả công tác dự báo, đánh giá thị trường để định hướng sản xuất, tạo nguồn hàng

3.5. Giải pháp tạo nguồn cung hàng hóa bền vững

3.6. Xây dựng Chuỗi cung ứng tối ưu các sản phẩm bình ổn thị trường

3.7. Xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường

3.8. Giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại, gia tăng hiệu quả lưu thông hàng hóa

3.9. Giải pháp quản lý thị trường, kiểm tra, kiểm soát, phòng chống gian lận thương mại

3.10. Một số khuyến nghị đối với cơ quan điều hành giá cấp Trung ương

3.11. TÓM TẮT CHƯƠNG III

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng chương trình bình ổn thị trường lương thực tại TP

Chương trình bình ổn thị trường lương thực, thực phẩm tại TP.HCM giai đoạn 2010-2015 đã được triển khai với nhiều mục tiêu quan trọng nhằm đảm bảo an sinh xã hội và ổn định giá cả hàng hóa thiết yếu. Chương trình này không chỉ giúp người tiêu dùng tiếp cận được hàng hóa với giá cả hợp lý mà còn góp phần điều tiết thị trường, giảm thiểu tình trạng tăng giá đột biến trong các dịp lễ, Tết. Đặc biệt, TP.HCM đã áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt để thực hiện chương trình này, từ việc xác định mặt hàng thiết yếu đến việc kết nối cung cầu giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng.

1.1. Ý nghĩa của chương trình bình ổn thị trường tại TP.HCM

Chương trình bình ổn thị trường không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn giúp các doanh nghiệp sản xuất và phân phối hàng hóa có thể duy trì hoạt động ổn định. Việc này tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích đầu tư và phát triển sản xuất. Theo báo cáo của Sở Công Thương TP.HCM, chương trình đã giúp giảm thiểu tình trạng khan hiếm hàng hóa trong các dịp lễ, Tết, đồng thời đảm bảo giá cả không bị đẩy lên quá cao.

1.2. Các mặt hàng lương thực thực phẩm thiết yếu trong chương trình

Chương trình tập trung vào các mặt hàng thiết yếu như gạo, đường, dầu ăn, thịt gia súc, thịt gia cầm, trứng gia cầm, thực phẩm chế biến, rau củ quả và thủy hải sản. Những mặt hàng này được xác định dựa trên nhu cầu tiêu dùng thực tế của người dân TP.HCM, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời cho thị trường.

II. Những thách thức trong việc triển khai chương trình bình ổn thị trường

Mặc dù chương trình bình ổn thị trường đã đạt được nhiều thành công, nhưng vẫn còn tồn tại một số thách thức lớn. Một trong những vấn đề chính là việc quản lý và điều tiết giá cả hàng hóa. Sự biến động của giá cả nguyên liệu đầu vào, cùng với tình hình thời tiết không thuận lợi, đã ảnh hưởng đến giá cả lương thực, thực phẩm. Ngoài ra, việc kết nối giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng vẫn còn gặp khó khăn, dẫn đến tình trạng hàng hóa không được phân phối đồng đều.

2.1. Tình hình cung cầu hàng hóa trong giai đoạn 2010 2015

Trong giai đoạn này, tình hình cung cầu hàng hóa tại TP.HCM đã có nhiều biến động. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao vào các dịp lễ, Tết, trong khi nguồn cung lại không đáp ứng kịp thời. Điều này dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa và giá cả tăng cao. Theo thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của TP.HCM đã có những biến động mạnh trong giai đoạn này.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả lương thực thực phẩm

Giá cả lương thực, thực phẩm chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu đầu vào, chi phí vận chuyển, và chính sách hỗ trợ của nhà nước. Sự biến động của giá cả thế giới cũng tác động không nhỏ đến giá cả trong nước. Theo các chuyên gia, việc theo dõi và dự báo giá cả là rất cần thiết để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

III. Phương pháp triển khai chương trình bình ổn thị trường hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả của chương trình bình ổn thị trường, TP.HCM đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một trong những phương pháp quan trọng là việc xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa bền vững. Điều này không chỉ giúp đảm bảo nguồn cung hàng hóa mà còn giảm thiểu chi phí vận chuyển và lưu kho. Bên cạnh đó, việc kết nối giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng cũng được chú trọng.

3.1. Xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa bền vững

Việc xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa bền vững giúp đảm bảo nguồn cung hàng hóa ổn định và giảm thiểu rủi ro trong quá trình phân phối. TP.HCM đã khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng này, từ sản xuất đến phân phối, nhằm tạo ra một hệ thống liên kết chặt chẽ và hiệu quả.

3.2. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chương trình

Chính quyền TP.HCM đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn thị trường. Các chính sách này bao gồm hỗ trợ về vốn, giảm thuế, và tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường. Điều này đã khuyến khích nhiều doanh nghiệp tham gia vào chương trình, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện.

IV. Kết quả đạt được từ chương trình bình ổn thị trường

Chương trình bình ổn thị trường đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong giai đoạn 2010-2015. Giá cả hàng hóa thiết yếu được duy trì ổn định, giúp người tiêu dùng có thể tiếp cận được hàng hóa với giá cả hợp lý. Ngoài ra, chương trình cũng đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về việc tiêu dùng thông minh và tiết kiệm.

4.1. Đánh giá kết quả thực hiện chương trình

Theo báo cáo của Sở Công Thương TP.HCM, chương trình đã giúp giảm thiểu tình trạng khan hiếm hàng hóa trong các dịp lễ, Tết. Giá cả hàng hóa thiết yếu được duy trì ổn định, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người dân. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia vào chương trình, tạo ra một mạng lưới cung ứng hàng hóa hiệu quả.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ chương trình

Chương trình bình ổn thị trường đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Việc kết nối giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng là rất quan trọng để đảm bảo nguồn cung hàng hóa. Bên cạnh đó, việc theo dõi và dự báo giá cả cũng cần được thực hiện thường xuyên để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

V. Tương lai của chương trình bình ổn thị trường tại TP

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, chương trình bình ổn thị trường tại TP.HCM cần được tiếp tục hoàn thiện và phát triển. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình cần được nghiên cứu và áp dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Đồng thời, việc xây dựng một hệ thống quản lý giá cả hiệu quả cũng là điều cần thiết để đảm bảo sự ổn định của thị trường.

5.1. Định hướng phát triển chương trình trong giai đoạn tới

Chương trình bình ổn thị trường cần được định hướng phát triển theo hướng bền vững, đảm bảo nguồn cung hàng hóa ổn định và giá cả hợp lý. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được tiếp tục thực hiện để khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp vào chương trình.

5.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình, cần có các giải pháp đồng bộ như cải thiện hệ thống phân phối, tăng cường công tác dự báo và đánh giá thị trường, cũng như nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về việc tiêu dùng thông minh. Việc này sẽ giúp chương trình bình ổn thị trường hoạt động hiệu quả hơn trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh thực trạng triển khai chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố hồ chí minh giai đoạn 2010 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ Ở VIỆT NAM. Lý luận về giá cả, giá cả thị trường và các nhân tố ảnh hưởng. Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của C.Mác khẳng định, hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của 2 mặt: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.

Ví dụ, cơm để ăn, xe đạp để đi lại. vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định. Công dụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn và là vật mang giá trị trao đổi.

Giá trị được xem xét như là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hoá, còn hàng hoá là nhân tố tế bào của xã hội tư sản. Ông đã phân tích tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao động trừu tượng, lao động tư nhân và lao động xã hội. Ông khẳng định chỉ có lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá - chất của giá trị là lao động.

Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao. Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. Giá trị là 1 phạm trụ lịch sử gắn liền với sản xuất hàng hoá. Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá, kết tinh trong hàng hoá.

Lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, lượng giá trị của hàng hoá do thời gian lao động quyết định. Từ việc phân tích các phạm trù giá trị nêu trên, C.Mác đã đưa ra định nghĩa về giá cả: “Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá”. Giá cả ở đây là giá cả hàng hoá, là mức giá mà được xã hội thừa nhận. Giá trị hàng hoá là giá trị xã hội, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, chứ không phải là giá trị cá biệt của từng người sản xuất.

Giá cả thị trường. Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường và giá cả sản xuất. Trong điều kiện tự do cạnh tranh, sự hình thành của giá cả thị trường phụ thuộc vào 03 nhân tố: giá trị thị trường của hàng hóa, quan hệ cung – cầu về hàng hóa và sức mua của đồng tiền trong lưu thông. Giá trị thị trường có những đặc trưng cơ bản sau: - Một là, giá cả thị trường hình thành trên cơ sở giá trị thị trường.

Để sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố “đầu vào” như nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, tiền lương, … chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm là bộ phận cơ bản tạo ra giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá của một người sản xuất là giá trị cá biệt. Nhưng khi người sản xuất mang hàng hoá ra bán trên thị trường, được thị trường chấp nhận thì đó là giá trị thị trường. - Hai là, giá cả thị trường là giá được thị trường chấp nhận.

Trên thị trường, khi người mua chấp nhận mua hàng và trả cho người bán một lượng tiền nhất định để được quyền sử hữu, sử dụng sản phẩm; tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Thị trường thừa nhận quan hệ cung-cầu, thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. - Ba là, giá cả thị trường biểu hiện quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán hàng hoá. Giá cả hàng hoá được hình thành trên thị trường thông qua hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán, người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, người bán bao giờ cũng muốn bán giá cao.

Mâu thuẫn này được giải quyết khi người mua và người bán thống nhất được mức giá hàng hoá, khi đó giá cả thị trường hình thành. - Bốn là, giá cả thị trường biểu hiện sự thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dụng. Giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 được thể hiện trên các mặt: Chất lượng chi phí sử dụng hàng hoá và tính thay thế lẫn nhau trong sử dụng.

Vì vậy, giá cả hình thành theo chất lượng hàng hoá, hàng có chất lượng cao thì giá cao và ngược lại, hàng có chất lượng thấp thì giá thấp. Đặc trưng của giá cả thị trường. Từ việc nghiên cứu bản chất kinh tế của phạm trù giá cả, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của giá cả thị trường như sau: - Một là, giá cả thị trường hình thành trên cơ sở giá trị thị trường: để sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ ra chi phí cho các yếu tố “đầu vào” như nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, tiền lương, … chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm là bộ phận cơ bản tạo ra giá trị hàng hoá. Giá trị hàng hoá của một người sản xuất là giá trị cá biệt.

Nhưng khi người sản xuất mang hàng hoá ra bán trên thị trường, được thị trường chấp nhận thì đó là giá trị thị trường. - Hai là, giá cả thị trường là giá được thị trường chấp nhận: trên thị trường, khi người mua chấp nhận mua hàng và trả cho người bán một lượng tiền nhất định để được quyền sử hữu, sử dụng sản phẩm; tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Thị trường thừa nhận quan hệ cung-cầu, thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. - Ba là, giá cả thị trường biểu hiện quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán hàng hoá.

Giá cả hàng hoá được hình thành trên thị trường thông qua hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán, người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, người bán bao giờ cũng muốn bán giá cao. Mâu thuẫn này được giải quyết khi người mua và người bán thống nhất được mức giá hàng hoá, khi đó giá cả thị trường hình thành. - Bốn là, giá cả thị trường biểu hiện sự thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dựng. Giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị giá trị sử dụng.

Giá trị sử dụng được thể hiện trên các mặt: Chất lượng chi phí sử dụng hàng hoá và tính thay thế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lẫn nhau trong sử dụng. Vì vậy, giá cả hình thành theo chất lượng hàng hoá, hàng có chất lượng cao thì giá cao và ngược lại, hàng có chất lượng thấp thì giá thấp. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả thị trường. - Giá trị thị trường.

Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường hàng hoá - Tức là phụ thuộc rất lớn vào giá trị thị trường. Giá trị thị trường nói ở đây, là giá trị xã hội – giá trị được xã hội thừa nhận và được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. Vậy, giá trị thị trường hình thành như thế nào? Như chúng ta đã biết, trên thị trường hầu hết các loại hàng hoá được sản xuất ra không chỉ một hoặc hai nhà sản xuất sản xuất ra mà có khi rất nhiều nhà sản xuất cùng sản xuất hàng hoá đó. Ví dụ, để sản xuất lúa, gạo, không chỉ có tỉnh Hậu Giang sản xuất mà nhiều tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng… sản xuất.

Mỗi địa phương, để sản xuất một tấn gạo đều phải hao phí một lượng lao động nhất định (tức là một giá trị cá biệt nhất định), và như vậy trên thị trường về gạo sẽ có nhiều người cung cấp gạo, mỗi loại ứng với 1 giá trị cá biệt nhất định. Nhưng khi đưa sản phẩm gạo ra thị trường thì xã hội chỉ chấp nhận một mức giá (nếu không tính đến các yếu tố khác như; phẩm chất, tỷ lệ tấm, …) đó là giá trị thị trường. Vậy, giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hoá trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn tới hình thành một giá trị xã hội trung bình.

Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của sức sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong ba trường hợp sau đây: - Trường hợp thứ nhất: Giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định. Đây là trường hợp phổ biến nhất, ở hầu hết các loại hàng hoá. Ví dụ: Để sản xuất quần áo, thì có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất, các doanh nghiệp này về cơ bản có điều kiện sản xuất như; máy móc thiết bị, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nguyên vật liệu, nhân công… là như nhau. Trên thị trường, giá trị thị trường của quần, áo sẽ do giá trị cá biệt trung bình của các doanh nghiệp quyết định.

- Trường hợp thứ hai: Giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện sấu quyết định. Ví dụ: Trong ngành khai thác than, do chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, các doanh nghiệp khai thác than ngày càng phải khai thác ở những điều kiện khó khăn hơn như; khai thác hầm lò phải đi vào sâu trong lòng đất, điều kiện vận chuyển than từ nơi khai thác ra bến cảng xa hơn, năng xuất lao động có thể thấp hơn… nhưng những doanh nghiệp này vẫn chiếm một tỷ trọng lớn sản lượng tiêu thụ của ngành khai thác than và xã hội vẫn cần than để sản xuất và tiêu dùng. Cho nên, giá trị cá biệt của những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quan trọng, đôi khi quyết định giá trị thị trường của sản phẩm than. - Trường hợp thứ ba: Giá trị thị trường hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện tốt quyết định.

Ví dụ: Trong ngành trồng lúa ở nước ta.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ