Mỳ đức anh phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện nga sơn thanh hóa năm 2019 luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp ii

Tài liệu nghiên cứu Mỳ đức anh phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Dược Sĩ Chuyên Khoa Cấp II

2019

101
6
1

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tổng quan về thuốc kháng sinh và danh mục thuốc kháng sinh

1.2. Đại cương về thuốc kháng sinh

1.3. Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh

1.4. Tổng quan về bệnh viện phổi mắc phải ở cộng đồng

1.5. Chuẩn đoán xác định bệnh viêm phổi mắc phải ở cộng đồng

1.6. Điều trị bệnh viêm phổi mắc phải ở cộng đồng

1.7. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị nội trú

1.8. Các phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp

1.9. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số sử dụng thuốc kháng sinh

2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRONG BỆNH VIỆN TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh tại các bệnh viện

2.2. Chỉ định thuốc kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trong điều trị nội trú ở một số bệnh viện

2.3. Một vài nét về bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn – Thanh Hóa

2.4. Tính cấp thiết của đề tài

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2.2. Biến số nghiên cứu

3.2.3. Phương pháp thu thập số liệu

3.2.4. Mẫu nghiên cứu

3.2.5. Xử lý và phân tích số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh đã sử dụng trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn – Thanh Hóa năm 2019

4.1.1. Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh nội trú trong tổng thuốc sử dụng nội trú năm 2019

4.1.2. Cơ cấu thuốc kháng sinh nội trú theo nguồn gốc xuất xứ

4.1.3. Cơ cấu thuốc kháng sinh theo cấu trúc hóa học

4.1.4. Giá trị tiêu thụ các kháng sinh nội trú

4.1.5. Cơ cấu thuốc kháng sinh theo đường dùng

4.1.6. Cơ cấu thuốc kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần

4.1.7. Phân tích liều DDD/100 ngày - giường của các thuốc kháng sinh nội trú

4.1.8. Phân tích giá trị tiêu thụ cho một liều DDD của các thuốc kháng sinh nội trú

4.2. Phân tích thực trạng chỉ định thuốc KS điều trị VPMPCĐ trong điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn năm 2019

4.2.1. Phân loại bệnh lý theo mã bệnh theo ICD 10

4.2.2. Phân loại chẩn đoán theo mã ICD-10 của nhóm bệnh hô hấp có sử dụng KS

4.2.3. Chi phí tiền thuốc sử dụng điều trị nội trú

4.2.4. Ngày điều trị trong Hồ sơ bệnh án

4.2.5. Các chỉ số liên quan về sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ

4.2.6. Thay đổi kháng sinh và chuyển đường dùng kháng sinh trong điều trị

4.2.7. Liều dùng kháng sinh trong bệnh án so với khuyến cáo

4.2.8. Khoảng cách đưa liều KS

4.2.9. Tỷ lệ kháng sinh sử dụng đơn độc và phối hợp

4.2.10. Khảo sát thực hiện làm kháng sinh đồ và chỉ định kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ

4.2.11. Phản ứng có hại của thuốc

5. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1. VỀ CƠ CẤU DANH MỤC KHÁNG SINH NỘI TRÚ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN NGA SƠN NĂM 2019

6.2. THỰC TRẠNG CHỈ ĐỊNH THUỐC KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ VPMPCĐ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN NGA SƠN NĂM 2019

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện 2019

Năm 2019, tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại các bệnh viện ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề đáng lo ngại. Việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý thuốc kháng sinh đã dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ kháng thuốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc đang gia tăng nhanh chóng, đe dọa đến hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Đặc biệt, tại Bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn, thuốc kháng sinh chiếm gần 25% tổng chi phí thuốc điều trị nội trú. Điều này cho thấy sự cần thiết phải phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh để có biện pháp can thiệp kịp thời.

1.1. Định nghĩa và phân loại thuốc kháng sinh

Kháng sinh là những chất có khả năng ức chế sự phát triển của vi sinh vật. Chúng được phân loại thành nhiều nhóm dựa trên cấu trúc hóa học và phổ tác dụng. Các loại kháng sinh phổ rộng có tác dụng đối với nhiều loại vi khuẩn khác nhau, trong khi kháng sinh phổ hẹp chỉ tác động lên một số vi khuẩn nhất định. Việc hiểu rõ về các loại kháng sinh này là rất quan trọng trong việc kê đơn và điều trị.

1.2. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện

Tại Bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn, việc sử dụng thuốc kháng sinh đã được ghi nhận với nhiều vấn đề. Nhiều bệnh nhân được kê đơn kháng sinh mà không có chỉ định rõ ràng, dẫn đến tình trạng lạm dụng. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng không hợp lý thuốc kháng sinh không chỉ làm tăng chi phí điều trị mà còn làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc.

II. Vấn đề và thách thức trong sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện 2019

Mặc dù có nhiều hướng dẫn về việc sử dụng thuốc kháng sinh, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức. Việc lạm dụng thuốc kháng sinh không chỉ gây ra tác dụng phụ mà còn làm gia tăng tỷ lệ kháng thuốc. Theo một nghiên cứu, tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cải thiện quy trình kê đơn và sử dụng thuốc kháng sinh.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến lạm dụng thuốc kháng sinh

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc lạm dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện, bao gồm sự thiếu hiểu biết của nhân viên y tế về chỉ định và liều lượng, cũng như áp lực từ bệnh nhân yêu cầu kê đơn kháng sinh. Ngoài ra, việc thiếu các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cũng góp phần vào tình trạng này.

2.2. Hậu quả của việc lạm dụng thuốc kháng sinh

Hậu quả của việc lạm dụng thuốc kháng sinh rất nghiêm trọng. Nó không chỉ làm tăng chi phí điều trị mà còn dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc, làm giảm hiệu quả điều trị. Nhiều bệnh nhân phải đối mặt với các biến chứng nghiêm trọng do việc sử dụng không hợp lý thuốc kháng sinh.

III. Phương pháp và giải pháp cải thiện sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện

Để cải thiện tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh, cần có các phương pháp và giải pháp hiệu quả. Việc thiết lập các chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện là rất cần thiết. Các biện pháp này không chỉ giúp kiểm soát việc sử dụng thuốc kháng sinh mà còn nâng cao nhận thức của nhân viên y tế và bệnh nhân về tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý.

3.1. Thiết lập chương trình quản lý kháng sinh

Chương trình quản lý kháng sinh cần được thiết lập tại các bệnh viện để theo dõi và đánh giá việc sử dụng thuốc kháng sinh. Điều này bao gồm việc thu thập dữ liệu về chỉ định, liều lượng và tác dụng phụ của thuốc kháng sinh. Các chương trình này cũng nên bao gồm các buổi đào tạo cho nhân viên y tế về việc sử dụng hợp lý thuốc kháng sinh.

3.2. Tăng cường giáo dục và đào tạo cho nhân viên y tế

Giáo dục và đào tạo cho nhân viên y tế về việc sử dụng thuốc kháng sinh là rất quan trọng. Cần tổ chức các buổi hội thảo, khóa học để nâng cao nhận thức về tác hại của việc lạm dụng thuốc kháng sinh và cách kê đơn hợp lý. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tình trạng kháng thuốc và nâng cao chất lượng điều trị.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc kháng sinh

Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Việc phân tích dữ liệu cho thấy rằng tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý đang ở mức cao. Các biện pháp can thiệp cần được thực hiện để cải thiện tình hình này.

4.1. Kết quả nghiên cứu về chỉ định thuốc kháng sinh

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bệnh nhân được kê đơn thuốc kháng sinh mà không có chỉ định rõ ràng. Tỷ lệ kháng thuốc cũng đang gia tăng, điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quy trình kê đơn và sử dụng thuốc kháng sinh.

4.2. Ứng dụng các biện pháp can thiệp

Các biện pháp can thiệp như thiết lập chương trình quản lý kháng sinh và tăng cường giáo dục cho nhân viên y tế đã được áp dụng. Kết quả cho thấy sự cải thiện trong việc sử dụng thuốc kháng sinh, giảm tỷ lệ kháng thuốc và nâng cao chất lượng điều trị.

V. Kết luận và tương lai của việc sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện

Việc sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện cần được quản lý chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc. Tương lai của việc sử dụng thuốc kháng sinh phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các cơ sở y tế, nhân viên y tế và bệnh nhân. Cần có các biện pháp đồng bộ để nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình kê đơn.

5.1. Tầm quan trọng của việc quản lý thuốc kháng sinh

Quản lý thuốc kháng sinh là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cần có các chính sách và quy định rõ ràng về việc sử dụng thuốc kháng sinh tại các bệnh viện.

5.2. Định hướng tương lai trong sử dụng thuốc kháng sinh

Tương lai trong việc sử dụng thuốc kháng sinh cần hướng đến việc phát triển các loại kháng sinh mới và cải thiện quy trình kê đơn. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở y tế và cộng đồng để đảm bảo việc sử dụng thuốc kháng sinh an toàn và hiệu quả.

16/08/2025
Mỳ đức anh phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện nga sơn thanh hóa năm 2019 luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp ii

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Từ khi phát hiện ra kháng sinh Penicilline đến nay, hàng trăm loại kháng sinh và các thuốc tương tự đã được phát minh và đưa vào sử dụng. Sự ra đời của kháng sinh đã đánh dấu kỷ nguyên phát triển mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Sử dụng kháng sinh có lợi ích to lớn trong điều trị, chăm sóc người bệnh khi được kê đơn và điều trị đúng. Tuy nhiên, nếu sử dụng rộng rãi, kéo dài, lạm dụng, làm cho nhiều loại vi khuẩn trở thành kháng thuốc.

Nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới và Việt Nam cũng cho thấy đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng đang tăng dần theo thời gian. Tình trạng kháng thuốc hiện là mối quan tâm chung của toàn xã hội đối với sức khỏe cộng đồng, đòi hỏi phải có sự nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi nguy cơ quay trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh. Tổ chức Y tế Thế giới nhận định, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau. Tuy vậy, trên thế giới đã xuất hiện các vi khuẩn kháng với hầu hết kháng sinh, còn gọi là vi khuẩn siêu kháng thuốc.

Ở Việt Nam, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ và mức độ lan rộng các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh. Gánh nặng do kháng thuốc ngày càng tăng do chi phí điều trị tăng lên, ngày điều trị kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội. Mặc dù hiện nay, đã có nhiều văn bản hướng dẫn, cập nhật về việc sử dụng kháng sinh nhưng vấn đề chỉ định thuốc kháng sinh trong điều trị vẫn đang còn nhiều bất cập, lúng túng. Điều này cho thấy, đến nay vấn đề đối phó với kháng kháng sinh chưa được đông đảo mọi người tham gia kể cả cán bộ y tế, trong bối cảnh vấn đề kiểm soát nhiễm khuẩn đang là thách thức đối với ngành y tế.

Việc phân tích thực trạng, thiết lập và thực hiện các chương trình quản lý kháng sinh tại bệnh viện là cần thiết nhằm phát hiện các vấn đề chưa hợp lý 1 trong sử dụng kháng sinh và có biện pháp can thiệp kịp thời, hiệu quả. Tại Bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn, kháng sinh đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu thuốc sử dụng của Bệnh viện hàng năm. Riêng chi phí sử dụng thuốc kháng sinh trong nội trú thường chiếm gần 25% tổng chi phí thuốc điều trị toàn viện. Tuy vậy từ trước đến nay chưa có một đề tài phân tích nào về thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại đây, vì thế chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn – Thanh Hóa năm 2019” với 2 mục tiêu là: - Mô tả cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh đã sử dụng trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn – Thanh Hóa năm 2019.

- Phân tích thực trạng chỉ định thuốc kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trong điều trị nội trú tại tại bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn – Thanh Hóa năm 2019. Với mong muốn từ những kết quả của đề tài này, chúng tôi sẽ đưa ra các ý kiến, đề xuất để góp phần nâng cao việc quản lý và hiệu quả sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn. Tổng quan về thuốc kháng sinh và danh mục thuốc kháng sinh 1. Đại cƣơng về thuốc kháng sinh Kháng sinh (antibiotic) là những chất kháng khuẩn (antibacterial subtances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [11].

Hiện nay, kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt vì việc sử dụng chúng không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng. Với những nước đang phát triển như Việt Nam, đây là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong. Người ta chia kháng sinh thành nhiều nhóm, dựa theo cấu trúc hóa học. Theo cách phân loại này, kháng sinh được chia thành các nhóm như sau [11]: Bảng 1.

Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học TT Tên nhóm Phân nhóm Các Penicilin Các Cephalosporin Các Beta-lactam khác 1 Beta-lactam Carbapenem Monobactam Các chất ức chế Beta-lactamase 2 Aminoglycosid 3 Macrolid 4 Lincosamid 5 Phenicol Thế hệ 1 6 Tetracyclin Thế hệ 2 Glycopeptid 7 Peptid Polypetid Lipopeptid Thế hệ 1 8 Quinolon Các Fluoroquinolon: Thế hệ 2,3,4 Các nhóm kháng sinh khác Sulfonamid 9 Oxazolidinon 5-nitroimidazol 3 Trong các nhóm, lại có thể chia theo phổ tác dụng, đó là là kháng sinh đặc hiệu, kháng sinh phổ rộng và kháng sinh phổ hẹp. Các loại kháng sinh phổ rộng có hoạt tính đối với nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Kháng sinh phổ hẹp là các loại kháng sinh chỉ tác động lên một số vi khuẩn nhất định [5]. Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh Trong y tế, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ để lại những hậu quả rất lớn, thuốc kháng sinh sẽ gây tác dụng không có lợi cho cơ thể người dùng đồng thời gây ra hiện tượng vi khuẩn đề kháng lại kháng sinh.

Hiện nay đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng đang tăng dần theo thời gian, thậm chí có vi khuẩn kháng với hầu hết kháng sinh, còn gọi là vi khuẩn siêu kháng thuốc [8]. Theo Bộ Y tế, chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn và cần tuân thủ theo những nguyên tắc sau [11]: 1. Lựa chọn kháng sinh và liều lượng - Lựa chọn thuốc kháng sinh phụ thuộc hai yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh. Yếu tố người bệnh bao gồm: Tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan - thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng… Nếu là phụ nữ cần lưu ý đối tượng phụ nữ có thai, đang cho con bú để cân nhắc lợi ích/nguy cơ.

Yếu tố vi khuẩn: Loại vi khuẩn, độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn. Cần lưu ý các biện pháp phối hợp để làm giảm mật độ vi khuẩn và tăng nồng độ kháng sinh tại ổ nhiễm khuẩn như làm sạch ổ mủ, dẫn lưu, loại bỏ tổ chức hoại tử… khi cần. Sử dụng kháng sinh dự phòng - Kháng sinh dự phòng (KSDP) là việc sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm mục đích ngăn ngừa hiện tượng này. - KSDP nhằm giảm tần suất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật [11],[34].

Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm - Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học do không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn hoặc khi nuôi cấy mà không phát hiện được nhưng có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn [11]. - Lưu ý lựa chọn kháng sinh có phổ hẹp nhất nhưng gần với vi khuẩn hoặc tác nhân gây bệnh. - Kháng sinh phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả nhưng không gây độc. - Trước khi bắt đầu điều trị, cố gắng lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập vi khuẩn trong những trường hợp có thể để điều chỉnh lại kháng sinh phù hợp hơn.

- Nên áp dụng mọi biện pháp phát hiện nhanh vi khuẩn khi có thể để có được cơ sở đúng đắn trong lựa chọn kháng sinh ngay từ đầu. - Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng trước khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh. - Cần thường xuyên cập nhật tình hình dịch tễ và độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương để lựa chọn được kháng sinh phù hợp. Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng vi khuẩn học - Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của kháng sinh đồ, kháng sinh được lựa chọn là kháng sinh có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất gần với các tác nhân gây bệnh được phát hiện.

- Ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc. Việc phối hợp kháng sinh chỉ cần thiết nếu: + Chứng minh có nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn nên cần phối hợp mới đủ phổ tác dụng, hoặc khi gặp vi khuẩn kháng thuốc mạnh, cần phối hợp để tăng thêm tác dụng, hoặc khi điều trị kéo dài, cần phối hợp để giảm nguy cơ kháng thuốc (ví dụ: điều trị lao, HIV…). Lựa chọn đường đưa thuốc - Đường uống là đường dùng được ưu tiên vì tiện dụng, an toàn và giá thành rẻ. Chỉ dùng đường tiêm khi khả năng hấp thu qua đường tiêu hoá bị ảnh hưởng hoặc cần nồng độ kháng sinh trong máu cao, khó đạt được bằng đường 5 uống, tuy nhiên, cần xem xét chuyển ngay sang đường uống khi có thể [11].

- Sinh khả dụng từ 50% trở lên là tốt, từ 80% trở lên được coi là hấp thu đường uống tương tự đường tiêm. Khi chuyển đường dùng kháng sinh từ tiêm/truyền sang đường uống thì có thể là điều trị nối tiếp hoặc điều trị xuống thang. Cụ thể như sau: + Điều trị nối tiếp/điều trị đổi kháng sinh (Áp dụng cho các kháng sinh có cả đường tiêm và đường uống): Azithromycin, Cefuroxime, Ciprofloxacin, Clindamycin, Doxycyline, Levofloxacin, Linezelid, Metronidazole, Moxifloxacin, Sulfamethoxazole/Trimethoprim [10]. + Điều trị xuống thang (từ kháng sinh tiêm/truyền sang kháng sinh uống) Bảng 1.

Các kháng sinh điều trị xuống thang STT Kháng sinh tiêm/truyền Kháng sinh uống 1 Ampicillin Amoxicillin 2 Ampicillin/Sulbactam Amoxicillin/Clavunate 3 Aztreonam Ciprofloxacin hoặc levofloxacin 4 Cefazolin Cephalexin 5 Cefotaxime hoặc ceftriaxone Cefpodoxime hoặc cefuroxime 6 Ceftazidime hoặc cefepime Ciprofloxacin hoặc levofloxacin 1. Độ dài đợt điều trị Độ dài đợt điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh. Thông thường đợt điều trị từ 7 - 10 ngày. Một số nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập thì đợt điều trị kéo dài hơn.

Một số kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài có thể giảm số ngày điều trị , ví dụ: dùng azithromycin chỉ cần một đợt 3 – 5 ngày, thậm chí một liều duy nhất. Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ