CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Thuốc YHCT và các quy định liên quan đến sử dụng thuốc, thuốc YHCT 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài 1.1 Khái niệm về thuốc YHCT Hiện nay, có rất nhiều tài liệu đề cập đến nhiều cách phân loại thuốc YHCT. Căn cứ vào Luật Dược 105/2016/QH13 [1]; Quyết định 39/2008/ QĐ – BYT của Bộ Y tế [2], chúng tôi đưa ra một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu như sau: Thuốc YHCT là một vị thuốc (sống hoặc chín) hay một chế phẩm thuốc được phối ngũ lập phương và bào chế theo phương pháp của YHCT từ một hay nhiều vị thuốc (có nguồn gốc từ thực vật, động vật hay khoáng vật) có tác dụng chữa bệnh hay có lợi cho sức khoẻ con người. Dược liệu là một nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật, động vật hay khoáng vật dùng để bào chế ra vị thuốc y dược cổ truyền.
Vị thuốc YHCT là một loại dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp của YHCT dùng để sản xuất thuốc cổ truyền hoặc dùng để phòng bệnh, chữa bệnh. Thuốc thang là một dạng thuốc cổ truyền gồm có một hoặc nhiều vị thuốc cổ truyền kết hợp với nhau theo lý luận của YHCT hoặc theo kinh nghiệm dân gian được đóng gói theo liều sử dụng. Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu là thuốc thành phẩm YHCT (hay còn gọi là Thuốc chế phẩm), là dạng thuốc YHCT đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói và dán nhãn, bao gồm: Thuốc dạng viên, thuốc dạng nước, thuốc dạng chè, thuốc dạng bột, thuốc dạng cao và các dạng thuốc khác. Thuốc Bắc là những dược liệu (cây, con, khoáng vật) được nuôi trồng và khai thác từ nước ngoài.
Thuốc Nam là những dược liệu (cây, con, khoáng vật) được nuôi trồng và khai thác trong nước. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm thuốc YHCT bao gồm: các vị thuốc YHCT dùng để cân thuốc thang và các thuốc thành phẩm YHCT được bào chế tại Bệnh viện. Nguồn gốc của thuốc YHCT bao gồm: nguồn gốc là thuốc Bắc và nguồn gốc là thuốc Nam.2 Khái niệm Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp 3 lý, an toàn, hiệu quả. Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của HĐT&ĐT.[8] Việc xây dựng một danh mục thuốc phù hợp sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, đảm bảo đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, đảm bảo thuốc có hiệu quả điều trị, với chất lượng tốt và chi phí hợp lý đồng thời loại bỏ các thuốc không không phù hợp hoặc không còn phù hợp.
Lựa chọn thuốc để xây dựng DMT phù hợp là công việc quan trọng trong chu trình cung ứng thuốc, là việc xác định chủng loại thuốc cho bệnh viện. Mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc (DMT) đặc thù riêng cho mình, Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) có có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. HĐT&ĐT đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng DMT. Nguyên tắc xây dựng DMT trong bệnh viện: - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước.3 Khái niệm kê đơn thuốc Kê đơn thuốc là một việc làm thường xuyên, có tính chất chuyên nghiệp của thầy thuốc.
Mỗi khi khám xong cho một bệnh nhân nào đó, người thầy thuốc thường có định hướng chẩn đoán xem họ mắc bệnh gì và sau đó là kê đơn thuốc. 4 Luật khám chữa bệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 quy định: Khi kê đơn thuốc, người thầy thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc thông tin về thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng và thời gian dùng thuốc. Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với chẩn đoán, tình trạng của người bệnh. Kê đơn tốt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế và tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân.
Trên thế giới, WHO và Hội y khoa các nước đã ban hành và áp dụng “Hướng dẫn kê đơn tốt”. Để thực hành kê đơn thuốc tốt, người thầy thuốc cần phải tuân thủ quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước: ➢ Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân ➢ Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị: Muốn đạt được gì sau điều trị? ➢ Bước 3: Xác định tính phù hợp của phương pháp điều trị riêng cho bệnh nhân: Kiểm tra tính hiệu quả và an toàn ➢ Bước 4: Bắt đầu điều trị ➢ Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn và cảnh báo ➢ Bước 6: Theo dõi (và dừng) điều trị. Kê đơn hợp lý giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe bệnh nhân và góp phần giảm chi phí điều trị. Trái lại, nếu kê đơn không hợp lý (như không đúng phác đồ, kê thuốc sai chỉ định, kê thuốc không cần thiết,.) sẽ dẫn đến hậu quả về sức khỏe bệnh nhân và chi phí điều trị: ➢ Làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc dẫn đến kéo dài thời gian điều trị, tăng tỷ lệ bệnh tật và tăng nguy cơ tử vong.
➢ Khó kiểm soát các tác dụng không mong muốn, các phản ứng phụ và khả năng tương tác giữa các thuốc dẫn đến mất an toàn trong quá trình sử dụng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh. ➢ Sử dụng thuốc không hợp lý làm gia tăng tình trạng kháng thuốc, nhất là đối với thuốc kháng sinh.4 Một số bài thuốc dân gian thường được sử dụng trong điều trị nội trú tại các cơ sở khám, chữa bệnh bằng YHCT Khảo sát tại Bệnh viện y dược cổ truyền TP.HCM [34] cho thấy các bệnh: di chứng bệnh mạch máu não; thoái hóa cột sống; các bệnh đĩa đệm khác… là những bệnh có tỷ lệ vào điều trị cao nhất. Phân loại theo chứng bệnh YHCT có tỷ lệ cao là: Chứng tý; bán thân bất toại, tọa cốt phong… Trong các tài liệu, y văn cổ phương có nhiều bài thuốc dân gian điều trị các chứng bệnh này. Tiêu biểu có thể kể đến bài thuốc “Độc hoạt ký sinh thang”.
Bài thuốc “Độc hoạt ký sinh thang” [35] là phương thuốc cổ truyền nổi tiếng xuất xứ từ Thiên Kim Phương, được giới y học phương Đông đánh giá cao về hiệu quả điều trị. Bài thuốc “Độc hoạt ký sinh thang” cụ thể như sau: Bảng 1.1 Bài thuốc “Độc hoạt ký sinh thang” Khối Vai STT Vị thuốc Tên khoa học ĐVT lượng trò 1 Độc hoạt Radix Angelicae pubescentis Gam 8,00 Quân 2 Tang ký sinh Herba Loranthi gracilifolii Gam 20,00 Quân 3 Bạch thược Radix Paeoniae lactiflorae Gam 12,00 Thần 4 Đương quy Radix Angelicae sinensis Gam 12,00 Thần 5 Đảng sâm Radix Codonopsis Gam 12,00 Thần 6 Phục linh Poria Gam 4,00 Thần 7 Xuyên khung Rhizoma Ligustici wallichii Gam 8,00 Thần 8 Phòng phong Radix Saposhnikoviae divaricatae Gam 8,00 Tá 9 Đỗ trọng Cortex Eucommiae Gam 12,00 Tá 10 Tế tân Radix et Rhizoma Asari Gam 4,00 Tá 11 Ngưu tất Radix Achyranthis bidentatae Gam 8,00 Tá 12 Tần giao Radix Gentianae macrophyllae Gam 12,00 Tá 13 Quế chi Ramulus Cinnamomi Gam 4,00 Tá 14 Sinh địa Radix Rehmanniae glutinosae Gam 8,00 Tá 15 Cam thảo Radix Glycyrrhizae Gam 6,00 Sứ 6 Cách dùng: Sắc uống chia 2 lần/ngày. Tác dụng: Trừ phong thấp, giảm đau, dưỡng can thận, bổ khí huyết. Chỉ định: chữa đau các khớp và đau dây thần kinh có kèm theo can thận hư và khí huyết hư.
Tác dụng của các vị thuốc [36]: - Độc hoạt: Vị cay, tính ôn vào kinh can và kinh thận, có tác dụng trừ phong tà, táo hàn thấp. Trị các chứng phong hàn thấp, làm đau nhức lưng; gối, tê mỏi. - Tang ký sinh: Vị đắng tính bình vào hai kinh can và thận, có tác dụng bổ can thận, làm mạnh gân cốt, ngoài ra, còn có tác dụng an thai và xuống sữa, trị các chứng đau nhức mỏi trong cơ thể. - Bạch thược: Vị chua đắng, tính hơi hàn, vào phần huyết của kinh can, có tác dụng tả can hỏa, tán ác huyết (huyết có triệu chứng nhiễm trùng).
- Đương quy: Vị cay đắng ngọt thơm, tính ấm, vào ba kinh tâm, tỳ, can, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt tràng, trị các chứng huyết hư đau tê nhức, bổ khí để sinh cơ, đại tiện táo bón. - Đảng sâm: Vị ngọt hơi đắng, tính hàn vào 12 kinh mạch của các tạng phủ, có tác dụng bổ đại nguyên khí. - Xuyên khung: Vị cay tính ôn vào ba kinh Tâm bào, can, đởm (túi mật) có tác dụng hoạt huyết hành khí khu phong giảm đau, trị các chứng: Phong thấp sưng đau các khớp, hành huyết tán ứ, đau đầu chóng mặt. - Phòng phong: Vị cay ngọt, tính ôn, vào năm kinh Can, phế, tỳ vị, bàng quang, có tác dụng phát hãn, giải biểu, trừ phong thấp, trị đau các khớp, đau nhức mỏi toàn thân, các chứng tý do hàn thấp, phong tà.
7 - Đỗ trọng: Vị ngọt hơi cay tính ấm vào hai kinh can và thận, có tác dụng bổ can thận, cường gân cốt, trị các chứng đau lưng, đau đầu gối, đi lại khó khăn. - Tế tân: Vị cay tính ấm, vào bốn kinh can thận tâm phế, có tác dụng trừ phong tán hàn, thông khiếu hành thủy, giảm đau, trị các chứng đau khắp mình mẩy, đau nhức đầu, đau tức ngực, trị các chứng phong hàn thấp tý. - Ngưu tất: Vị đắng chua tính bình, vào hai kinh can và thận có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trị chứng đau hai đầu gối, đi lại khó khăn. - Tần giao: Vị đắng tính bình vào bốn kinh can, đởm, vị và đại tràng, có tác dụng trừ phong thấp, điều hòa khí huyết, thanh nhiệt lợi tiểu.
Điều trị các chứng phong tê thấp, tay chân bị co rút biến dạng. - Quế chi: Vị ngọt cay, tính đại nhiệt, vào hai kinh Can và thận, có tác dụng bổ chân hỏa, trợ dương, khu hàn, giảm đau, trị các chứng mệnh môn hỏa suy yếu, tay chân lạnh.