Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có quy mô dân số trên 93 triệu người, trong đó số phụ nữ thuộc độ tuổi sinh sản từ 15 đến 49 tuổi đạt hơn 24,2 triệu người. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại trên toàn quốc đạt khoảng 66,5% đến 66,8%, song cơ cấu lựa chọn vẫn tập trung chủ yếu vào dụng cụ tử cung và bao cao su. Nhằm nâng cao chất lượng dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản, chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn mới đặt trọng tâm vào việc đa dạng hóa các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn. Nhóm biện pháp này mang lại hiệu quả ngừa thai vượt trội từ 95% đến 99%, cho phép người phụ nữ chủ động kiểm soát khoảng cách sinh nở trong nhiều năm nhưng vẫn phục hồi khả năng sinh sản nhanh chóng sau khi ngừng sử dụng.

Tuy nhiên, tại nhiều địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, việc tiếp cận và mở rộng các phương tiện tránh thai hiện đại dài hạn vẫn còn gặp không ít trở ngại. Tại thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp – nơi có quy mô dân số 10.850 người với 2.134 phụ nữ 18-49 tuổi có chồng – tỷ lệ áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại năm 2019 đạt 79%, song cơ cấu các phương tiện dài hạn có sự chênh lệch lớn khi thuốc tiêm đạt 14,1%, que cấy chỉ đạt 0,86% và dụng cụ tử cung đạt 35%. Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng của tác giả Đặng Thị Thu Duyên được thực hiện nhằm mô tả thực trạng và xác định các yếu tố liên quan đến việc sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ 18-49 tuổi có chồng tại địa bàn vào năm 2021. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học thực địa phục vụ công tác can thiệp y tế công cộng và nâng cao hiệu quả chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản tuyến cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết tiếp cận hành vi sức khỏe sinh sản dựa trên sự tích hợp giữa mô hình hành vi tiếp cận dịch vụ y tế của Andersen và lý thuyết hành vi dự định. Khung phân tích xác định quyết định sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ chịu sự tác động đồng thời của bốn nhóm yếu tố: đặc điểm nhân khẩu học kinh tế xã hội, kiến thức và thái độ của đối tượng, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, cùng sự ủng hộ từ gia đình và xã hội.

Về mặt khái niệm, phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn trong nghiên cứu được định nghĩa là những biện pháp can thiệp y tế chỉ cần thực hiện một lần nhưng mang lại hiệu quả ngừa thai kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm và có khả năng phục hồi sinh sản sau khi ngừng, bao gồm dụng cụ tử cung, thuốc tiêm tránh thai và que cấy tránh thai. Dụng cụ tử cung là vật thể đặt trong buồng tử cung ngăn cản quá trình thụ tinh và làm tổ với hiệu quả 97% đến 99% kéo dài từ 5 đến 8 năm. Thuốc tiêm tránh thai sử dụng nội tiết tố progestin tiêm bắp định kỳ mang lại hiệu lực bảo vệ trên 95% kéo dài 1 đến 3 tháng mỗi liều. Que cấy tránh thai là các ống nhỏ chứa hormone phóng thích chậm dưới da với hiệu quả ngừa thai lên đến 99% trong thời gian 3 đến 5 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp định lượng và định tính. Về phần định lượng, cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với mức ý nghĩa alpha 0,05, độ chính xác mong muốn d bằng 0,07 và tỷ lệ dự đoán p bằng 0,5, tính ra cỡ mẫu tối thiểu là 196 phụ nữ. Để dự phòng 10% sai số và không hợp lệ, tác giả đã tiến hành thu thập số liệu trên 220 phụ nữ từ 18 đến 49 tuổi có chồng đang cư trú thực tế tại địa bàn thị trấn Tràm Chim. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được triển khai qua 3 bước: lập danh sách toàn bộ 2.134 phụ nữ đủ tiêu chuẩn từ sổ quản lý hộ gia đình của cộng tác viên dân số, xác định khoảng cách mẫu k bằng 9, bốc thăm ngẫu nhiên số bắt đầu và lấy liên tiếp cho đến khi đủ 220 đối tượng.

Về nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo Trạm y tế và cán bộ phụ trách công tác dân số, kết hợp tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung (mỗi nhóm gồm 7 phụ nữ đại diện cho các nhóm đang dùng, đã ngưng và chưa từng dùng phương tiện tránh thai). Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên phần mềm thống kê Stata phiên bản 12.0. Nghiên cứu sử dụng phân tích đơn biến và mô hình hồi quy logistic đa biến nhằm kiểm soát các biến số gây nhiễu, từ đó xác định chính xác các yếu tố có mối liên quan độc lập mang ý nghĩa thống kê. Dữ liệu định tính được gỡ băng và phân tích theo chủ đề để giải thích sâu sắc các rào cản hành vi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 220 phụ nữ có chồng tại thị trấn Tràm Chim ghi nhận tỷ lệ hiện đang sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn đạt 53,6% (tương ứng 118 người). Nhóm đã từng sử dụng nhưng hiện tại đã ngưng chiếm 28,6% (63 người) và nhóm chưa bao giờ sử dụng chiếm 17,7% (39 người). Về cơ cấu các biện pháp đang được sử dụng, nghiên cứu ghi nhận sự mất cân đối nghiêm trọng: dụng cụ tử cung chiếm đa số với 73,7% trong tổng số người đang dùng (chiếm 40,0% toàn mẫu), thuốc tiêm tránh thai chiếm 26,3% (chiếm 14,0% toàn mẫu), trong khi que cấy tránh thai hoàn toàn không có đối tượng nào sử dụng (đạt 0,0%).

Về phân bố xã hội học, tỷ lệ sử dụng tập trung cao nhất ở nhóm phụ nữ từ 35 tuổi trở lên với 51,7%, nhóm kết hôn từ 6 đến 10 năm chiếm 62,7%, nhóm đã sinh từ 1 đến 2 con chiếm 84,1% và nhóm có cả con trai lẫn con gái chiếm 45,5%. Lý do chủ yếu thúc đẩy phụ nữ lựa chọn các biện pháp dài hạn là đã sinh đủ số con mong muốn (chiếm 47,3%) và mong muốn có biện pháp hiệu quả cao, kéo dài (chiếm 46,8%). Đáng chú ý, 96,0% đối tượng phải tự chi trả kinh phí dịch vụ và chỉ có 0,4% được cấp miễn phí theo diện hộ nghèo hoặc cận nghèo.

Trong số 80 lượt đối tượng từng ngừng sử dụng, lý do lớn nhất là mong muốn sinh thêm con (46,25%) và sợ hoặc gặp tác dụng phụ (42,50%). Tác dụng phụ thực tế gặp phải ở 181 lượt phụ nữ bao gồm vô kinh (33,0%), sạm da (26,8%), tăng cân nhanh (20,0%), đau bụng khi hành kinh (16,8%) và rong kinh (14,8%). Về nhận thức, 99,5% phụ nữ từng nghe nói về các biện pháp tránh thai dài hạn, nhưng kiến thức chi tiết về que cấy chỉ đạt 5,5%, thấp hơn rất nhiều so với dụng cụ tử cung (96,8%) và thuốc tiêm (95,5%).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện của nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu phương tiện tránh thai, biểu đồ cột biểu diễn phân bố theo nhóm tuổi và bảng ma trận hồi quy đa biến trình bày các giá trị tỷ số chênh đã hiệu chỉnh. Tỷ lệ 53,6% phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai dài hạn tại Tràm Chim cao hơn so với tỷ lệ chung của nhiều vùng nông thôn, tuy nhiên sự vắng bóng hoàn toàn của que cấy tránh thai (0,0%) phản ánh một lỗ hổng lớn trong công tác cung ứng kỹ thuật cao tại y tế cơ sở.

Mô hình hồi quy đa biến khẳng định có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa hành vi sử dụng phương tiện tránh thai dài hạn với độ tuổi, số con hiện có, thời gian kết hôn, mức độ hiểu biết của người vợ và thái độ của người chồng. Phụ nữ trên 35 tuổi và đã có từ 2 con trở lên có xác suất sử dụng biện pháp dài hạn cao gấp nhiều lần so với nhóm trẻ tuổi chưa đủ con. Đặc biệt, sự ủng hộ của người chồng đóng vai trò quyết định khi có 13,64% phụ nữ chọn biện pháp nhờ chồng đồng thuận, và 5,0% phải ngưng sử dụng do chồng phản đối. Các dữ liệu định tính chỉ ra rằng tâm lý e ngại rong kinh, đau bụng khi lao động nông nghiệp cùng với rào cản chi phí tiếp thị xã hội là những nguyên nhân trực tiếp kìm hãm tỷ lệ chấp nhận dịch vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao tỷ lệ tiếp cận và đa dạng hóa các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ:

Thứ nhất, tổ chức đào tạo và chuẩn hóa năng lực chuyên môn kỹ thuật cho 100% cán bộ y tế tuyến xã và nữ hộ sinh tại Trạm y tế thị trấn Tràm Chim trong vòng 6 đến 12 tháng tới. Trung tâm Y tế huyện Tam Nông cần phối hợp với tuyến tỉnh mở các lớp tập huấn thực hành về quy trình đặt, tháo que cấy tránh thai và theo dõi xử trí tác dụng phụ của thuốc tiêm, đảm bảo trạm y tế đủ điều kiện kỹ thuật cung cấp dịch vụ tại chỗ một cách an toàn.

Thứ hai, thiết kế các chương trình truyền thông tư vấn chuyên biệt theo phân nhóm đối tượng, đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ hiểu biết về que cấy tránh thai từ mức 5,5% hiện tại lên trên 50% trong vòng 2 năm. Trạm y tế và đội ngũ cộng tác viên dân số cần đẩy mạnh truyền thông trực tiếp đến nhóm phụ nữ từ 30 tuổi trở lên đã sinh đủ 2 con, đồng thời tích hợp nội dung kế hoạch hóa gia đình vào các buổi sinh hoạt đoàn thể để thu hút nam giới tham gia, gia tăng tỷ lệ đồng thuận của người chồng lên trên 85%.

Thứ ba, củng cố chuỗi cung ứng vật tư và áp dụng chính sách trợ giá linh hoạt nhằm giảm bớt gánh nặng kinh tế khi hiện có đến 96,0% người dân phải tự chi trả. Ủy ban nhân dân huyện và ngành y tế địa phương cần mở rộng danh mục hỗ trợ phương tiện tránh thai miễn phí hoặc tiếp thị xã hội có trợ giá cho nhóm đối tượng cận nghèo, lao động tự do có thu nhập bấp bênh.

Thứ tư, cải tạo cơ sở vật chất phòng thủ thuật tại Trạm y tế nhằm đảm bảo tính riêng tư, vô khuẩn tuyệt đối cho khách hàng. Đơn vị cần thiết lập quy trình tư vấn trước, trong và sau can thiệp, cung cấp số điện thoại tư vấn trực tiếp để giải tỏa nỗi sợ về các triệu chứng vô kinh, rong kinh, hướng tới giảm tỷ lệ ngưng sử dụng do tác dụng phụ từ 42,5% xuống dưới 20% trong giai đoạn tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại Chi cục Dân số tỉnh Đồng Tháp và Trung tâm Y tế huyện Tam Nông. Các nhà quản lý có thể khai thác bộ số liệu thực địa về cơ cấu sử dụng và tỷ lệ chi trả tự túc 96,0% để lập kế hoạch phân bổ ngân sách, dự trù nguồn cung vật tư que cấy và xây dựng chỉ tiêu chuyên môn sát với nhu cầu thực tế của từng địa bàn.

Nhóm thứ hai là đội ngũ y bác sĩ, nữ hộ sinh và cán bộ chuyên trách tại các Trạm y tế xã, thị trấn. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu chi tiết về tỷ lệ gặp tác dụng phụ như vô kinh 33,0% hay sạm da 26,8%, giúp nhân viên y tế cơ sở nâng cao kỹ năng tư vấn lâm sàng, giải thích cặn kẽ cho khách hàng trước khi thực hiện thủ thuật nhằm hạn chế tối đa việc tháo vòng hay ngưng tiêm thuốc sớm.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng và Xã hội học y tế. Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định lượng và định tính, cung cấp bộ câu hỏi khảo sát và quy trình chọn mẫu hệ thống ngẫu nhiên k bằng 9 có giá trị ứng dụng cao cho các đề tài nghiên cứu sức khỏe cộng đồng.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và đơn vị hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản. Dữ liệu từ luận văn hỗ trợ đắc lực cho việc thiết kế các dự án can thiệp cộng đồng, truyền thông thay đổi hành vi và thúc đẩy bình đẳng giới trong việc chia sẻ trách nhiệm tránh thai giữa vợ và chồng.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân vì sao que cấy tránh thai có tỷ lệ sử dụng 0,0% tại địa bàn nghiên cứu dù đây là biện pháp có hiệu quả ngừa thai lên tới 99%? Tình trạng này xuất phát từ việc Trạm y tế cơ sở chưa được cung ứng sẵn que cấy và thiếu cán bộ được cấp chứng chỉ thực hiện kỹ thuật cấy que. Bên cạnh đó, mức độ nhận biết của người dân về biện pháp này còn rất thấp khi chỉ có 5,5% phụ nữ từng nghe nói, kết hợp với rào cản chi phí tự chi trả còn cao so với thu nhập bình quân của các hộ gia đình nông thôn.

Nhóm phụ nữ nào có tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại dài hạn cao nhất trong khảo sát? Nhóm phụ nữ từ 35 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ áp dụng cao nhất với 51,7% trong tổng số người đang sử dụng, và chiếm tới 67,0% tổng số đối tượng trong nhóm tuổi này. Đa số họ là những người đã kết hôn trên 6 năm, có từ 2 con trở lên và đã đạt quy mô gia đình mong muốn nên có nhu cầu kiểm soát sinh sản lâu dài, ổn định.

Những tác dụng phụ nào thường gặp nhất khiến phụ nữ lo ngại hoặc ngưng sử dụng phương tiện tránh thai dài hạn? Khảo sát trên 181 phụ nữ cho thấy các tác dụng phụ phổ biến nhất là vô kinh (chiếm 33,0%), sạm da (chiếm 26,8%), tăng cân nhanh (chiếm 20,0%), đau bụng kinh (chiếm 16,8%) và rong kinh (chiếm 14,8%). Nỗi sợ và sự phiền toái từ các triệu chứng này chiếm tới 42,5% tổng số lý do khiến người sử dụng quyết định ngưng biện pháp.

Sự đồng thuận của người chồng tác động như thế nào đến quyết định thực hiện kế hoạch hóa gia đình của người vợ? Thái độ của người chồng là yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy đa biến. Trong nghiên cứu, có 13,64% phụ nữ quyết định sử dụng biện pháp dài hạn nhờ có sự động viên từ chồng, ngược lại có 5,0% trường hợp buộc phải ngừng sử dụng do người chồng phản đối vì e ngại ảnh hưởng đến sức khỏe của vợ.

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chọn mẫu nào để đảm bảo tính đại diện khoa học cho tổng thể phụ nữ tại thị trấn? Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách quản lý 2.134 phụ nữ có chồng tại 5 khóm của thị trấn Tràm Chim. Với khoảng cách mẫu k bằng 9 và điểm xuất phát ngẫu nhiên, nghiên cứu đã chọn ra 220 đối tượng đại diện đầy đủ cho các thành phần nghề nghiệp, kinh tế và nhóm tuổi tại địa phương.

Kết luận

Tổng kết công trình nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn tại thị trấn Tràm Chim, luận văn mang lại 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Tỷ lệ phụ nữ có chồng sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn tại thị trấn Tràm Chim năm 2021 đạt 53,6%, phản ánh sự chấp nhận tương đối khả quan của người dân đối với các biện pháp ngừa thai dài hạn.
  • Cơ cấu phương tiện tránh thai có sự mất cân đối nghiêm trọng khi dụng cụ tử cung chiếm áp đảo với 73,7% và thuốc tiêm chiếm 26,3%, trong khi que cấy tránh thai hoàn toàn chưa tiếp cận được người dân (0,0%).
  • Quyết định sử dụng phương tiện tránh thai dài hạn chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố: độ tuổi trên 35, đã có từ 2 con trở lên, thời gian kết hôn trên 6 năm, kiến thức đúng của người vợ và sự ủng hộ của người chồng.
  • Rào cản lớn nhất đối với việc duy trì sử dụng là các tác dụng phụ thực tế (chiếm 42,5% lý do ngừng) và áp lực kinh tế khi có đến 96,0% đối tượng phải tự chi trả toàn bộ chi phí dịch vụ.
  • Yêu cầu cấp bách đặt ra cho ngành y tế địa phương là phải tổ chức đào tạo kỹ thuật cấy que cho tuyến xã, đa dạng hóa nguồn cung vật tư tiếp thị xã hội và tăng cường truyền thông hướng tới nam giới.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp một bức tranh dịch tễ học thực địa chuẩn xác, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các rào cản nhận thức, xã hội học với hành vi sức khỏe sinh sản tại vùng nông thôn Nam Bộ. Trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tiếp theo, ngành y tế địa phương cần nhanh chóng triển khai các lớp tập huấn kỹ thuật cho trạm y tế và tiến hành đánh giá lại các chỉ số can thiệp sau 1 năm thực hiện. Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ y tế dự phòng và chuyên gia dân số hãy khai thác ngay nguồn cứ liệu tin cậy từ công trình nghiên cứu này để xây dựng các giải pháp can thiệp y tế công cộng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và các gia đình Việt Nam.