Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18 49 tuổi có chồng tại thị trấn tràm chim huyện tam nông tỉnh đồng tháp năm 2021

Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng phương tiện tránh thai hiện đại của phụ nữ 18-49 tuổi tại Tràm Chim, Đồng Tháp năm 2021.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

110
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Thực Trạng Sử Dụng Biện Pháp Tránh Thai Tại Tràm Chim

Việt Nam đang đối mặt với những thách thức về dân số, đòi hỏi các biện pháp kế hoạch hóa gia đình hiệu quả. Việc sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dân số và nâng cao sức khỏe sinh sản. Thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, có một tỷ lệ đáng kể phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tạm thời, bao gồm dụng cụ tử cung (DCTC), thuốc tiêm tránh thai và que cấy tránh thai. Mục tiêu là hiểu rõ hơn về mức độ sử dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của phụ nữ tại địa phương này. Dữ liệu này quan trọng để xây dựng các chính sách và chương trình phù hợp, nhằm cải thiện sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ tại Tràm Chim. Phương tiện tránh thai hiện đại giúp kiểm soát mang thai ngoài ý muốn.

1.1. Vai Trò Các Phương Tiện Tránh Thai Hiện Đại Tạm Thời

Các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời, như DCTC, thuốc tiêm, và que cấy, mang lại hiệu quả cao và thời gian tác dụng kéo dài. Điều này giúp phụ nữ chủ động hơn trong việc kiểm soát sinh sản mà không cần lo lắng về việc sử dụng hàng ngày như thuốc uống. Dụng cụ tử cung (DCTC) là một trong những biện pháp được sử dụng rộng rãi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, nhờ tính hiệu quả, đơn giản và chi phí hợp lý. Thuốc tiêm tránh thai cũng là một lựa chọn phổ biến, đặc biệt là loại chỉ chứa progestin. Que cấy tránh thai, dù ít phổ biến hơn, cũng mang lại hiệu quả cao với thời gian tác dụng kéo dài từ 3-5 năm. Việc tiếp cận các phương tiện này, kiến thức và thái độ của phụ nữ là những yếu tố then chốt.

1.2. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu Thực Trạng Tại Tràm Chim Đồng Tháp

Nghiên cứu này tập trung vào thị trấn Tràm Chim, nơi có tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tạm thời còn thấp so với mục tiêu đề ra. Mặc dù 79% các cặp vợ chồng áp dụng các phương pháp tránh thai hiện đại, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tạm thời dài hạn như thuốc tiêm (14,1%), que cấy (0,86%) và DCTC (35%) vẫn chưa cao. Việc hiểu rõ thực trạng và các yếu tố liên quan sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia y tế xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp. Nghiên cứu này góp phần vào việc cải thiện sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ tại Tràm Chim và các khu vực tương tự.

II. Thách Thức Hạn Chế Sử Dụng Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại

Mặc dù các biện pháp tránh thai hiện đại tạm thời mang lại nhiều lợi ích, vẫn còn nhiều thách thức trong việc nâng cao tỷ lệ sử dụng. Một trong những rào cản chính là thiếu thông tin và kiến thức đầy đủ về các biện pháp này. Nhiều phụ nữ có thể không biết về sự tồn tại, hiệu quả hoặc tác dụng phụ của DCTC, thuốc tiêm, hoặc que cấy. Thái độ tiêu cực hoặc lo ngại về tác dụng phụ cũng có thể ngăn cản phụ nữ sử dụng. Bên cạnh đó, chi phí và khả năng tiếp cận dịch vụ cũng là những yếu tố quan trọng. Nghiên cứu cần xác định rõ các rào cản này để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Thiếu Hiểu Biết Về Các Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Tạm Thời

Nhiều phụ nữ tại Tràm Chim có thể chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin về các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời. Điều này có thể dẫn đến những hiểu lầm hoặc lo ngại không cần thiết. Nghiên cứu cần đánh giá mức độ hiểu biết của phụ nữ về các biện pháp này, bao gồm cách sử dụng, hiệu quả và tác dụng phụ. Kiến thức đầy đủ là yếu tố then chốt để phụ nữ đưa ra quyết định informed và lựa chọn phương pháp phù hợp.

2.2. Tiếp Cận Dịch Vụ Kế Hoạch Hóa Gia Đình Còn Hạn Chế

Khả năng tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, bao gồm tư vấn, cung cấp và thực hiện các biện pháp tránh thai, có thể bị hạn chế tại Tràm Chim. Việc di chuyển đến các cơ sở y tế có thể khó khăn đối với một số phụ nữ, đặc biệt là những người sống ở vùng sâu vùng xa. Chi phí cũng có thể là một rào cản, mặc dù một số dịch vụ có thể được cung cấp miễn phí hoặc trợ cấp. Nghiên cứu cần đánh giá khả năng tiếp cận và chi phí để xác định các giải pháp cải thiện.

III. Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức và Tiếp Cận Phương Tiện Tránh Thai

Để nâng cao tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tạm thời, cần có các giải pháp đồng bộ tập trung vào nâng cao nhận thức và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ. Các chương trình truyền thông cần được thiết kế để cung cấp thông tin chính xác và dễ hiểu về các biện pháp tránh thai, giải quyết những hiểu lầm và lo ngại. Cần tăng cường các dịch vụ tư vấn và cung cấp miễn phí hoặc trợ cấp các biện pháp tránh thai cho những người có nhu cầu. Đào tạo cán bộ y tế tuyến cơ sở để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cũng rất quan trọng.

3.1. Truyền Thông Giáo Dục Về Kế Hoạch Hóa Gia Đình Hiệu Quả

Các chương trình truyền thông giáo dục về kế hoạch hóa gia đình cần được thiết kế một cách sáng tạo và phù hợp với văn hóa địa phương. Sử dụng các kênh truyền thông đa dạng, bao gồm truyền hình, radio, báo chí và mạng xã hội. Tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo và tư vấn tại cộng đồng. Thông tin cần được trình bày một cách dễ hiểu, tránh sử dụng thuật ngữ chuyên môn phức tạp.

3.2. Mở Rộng Dịch Vụ Tư Vấn và Cung Cấp Phương Tiện Tránh Thai

Mở rộng các dịch vụ tư vấn và cung cấp phương tiện tránh thai tại các trạm y tế xã, phòng khám tư nhân và các cơ sở y tế khác. Cung cấp dịch vụ lưu động để tiếp cận những phụ nữ ở vùng sâu vùng xa. Đảm bảo rằng các dịch vụ này được cung cấp một cách thân thiện, tôn trọng và bí mật. Cung cấp miễn phí hoặc trợ cấp các biện pháp tránh thai cho những người có thu nhập thấp.

3.3. Đào tạo Nâng cao chuyên môn cho cán bộ y tế

Cần phải có cán bộ có chuyên môn thực hiện các kỹ thuật như: đặt DCTC, tiêm thuốc tránh thai, cấy que tránh thai tại tuyến cơ sở. Cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản từ tuyến xã đến huyện phải được cập nhật kiến thức mới về các PTTT tạm thời hiện nay và cập nhật thường xuyên qui trình kỹ thuật đặt DCTC, que cấy tránh thai, thuốc tiêm tránh thai thông qua đào tạo, tập huấn để đảm bảo an toàn, hiệu quả cho đối tượng khi sử dụng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Thực Trạng Sử Dụng PTTT Tạm Thời Tại Tràm Chim

Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phụ nữ hiện đang sử dụng PTTT tạm thời dài hạn là 53,6%. Trong đó DCTC chiếm 73,7%, thuốc tiêm tránh thai là 26,3%, không có que cấy tránh thai. Nhóm tuổi sử dụng PTTT tạm thời dài hạn cao nhất là 35 tuổi trở lên chiếm 67%, đa số phụ nữ sử dụng PTTT tạm thời dài hạn là những người có từ 2 con trở lên, có cả trai và gái hoặc đã đủ số con mong muốn. Có tác dụng lâu dài và đủ số con mong muốn là lý do chính mà đối tượng chọn sử dụng những PTTT này. Bằng phương pháp xử lý đa biến, nghiên cứu cũng tìm hiểu được một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với sử dụng các PTTT tạm thời dài hạn đó là tuổi, số con hiện có, thời gian kết hôn, kiến thức, tiếp cận dịch vụ của ĐTNC và thái độ của người chồng.

4.1. Đánh Giá Tỷ Lệ Sử Dụng Các Biện Pháp Tránh Thai Cụ Thể

Phân tích chi tiết tỷ lệ sử dụng từng biện pháp tránh thai, bao gồm DCTC, thuốc tiêm tránh thai, và que cấy tránh thai. Xác định biện pháp nào được sử dụng phổ biến nhất và biện pháp nào ít được sử dụng nhất. Đánh giá sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng theo độ tuổi, trình độ học vấn, và tình trạng kinh tế. So sánh kết quả với các nghiên cứu khác để xác định xu hướng và đặc điểm riêng của Tràm Chim.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Sử Dụng PTTT

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng các biện pháp tránh thai, bao gồm kiến thức, thái độ, khả năng tiếp cận dịch vụ, và ảnh hưởng của gia đình và cộng đồng. Xác định những yếu tố nào có tác động mạnh nhất và những yếu tố nào ít quan trọng hơn. Đánh giá vai trò của cán bộ y tế và các chương trình truyền thông trong việc định hình quyết định của phụ nữ.

V. Kết Luận Cải Thiện Sức Khỏe Sinh Sản Tại Tràm Chim

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tạm thời tại Tràm Chim, Đồng Tháp. Kết quả cho thấy cần có các chương trình can thiệp toàn diện để nâng cao nhận thức, cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ và giải quyết những rào cản văn hóa xã hội. Việc đầu tư vào sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình là yếu tố then chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống của phụ nữ và gia đình tại Tràm Chim.

5.1. Khuyến Nghị Cho Các Chương Trình Can Thiệp Tương Lai

Đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho các chương trình can thiệp tương lai, dựa trên kết quả nghiên cứu và các bằng chứng khoa học. Đề xuất các giải pháp sáng tạo và phù hợp với văn hóa địa phương. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp giữa các cơ quan y tế, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Các Biện Pháp Tránh Thai

Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Khám phá các biện pháp tránh thai mới và hiệu quả hơn. Đánh giá tác động của các chương trình can thiệp đối với sức khỏe sinh sản của phụ nữ.

23/05/2025
Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18 49 tuổi có chồng tại thị trấn tràm chim huyện tam nông tỉnh đồng tháp năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Dân số Việt Nam vào khoảng 93 triệu người. Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) là trên 24,2 triệu người và dự báo sẽ đạt cực đại vào năm 2027 – 2028. Trung bình mỗi năm dân số Việt Nam tăng thêm khoảng gần 1 triệu người. Biện pháp tránh thai hiện đại giúp kiểm soát các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, góp phần điều chỉnh sự bùng nổ dân số, tiết kiệm các khoản chi cho các dịch vụ xã hội.

Theo kinh nghiệm của quốc tế, nếu chi 1 USD cho KHHGĐ thì sẽ tiết kiệm được 31 USD chi cho xã hội. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại mới chỉ đạt 66,8% (năm 2016- theo số liệu của Tổng cục Dân số- KHHGĐ). Chủ yếu là bao cao su và vòng tránh thai. Nhằm đa dạng hoá hơn nữa các PTTT theo mục tiêu mới của chương trình DS-KHHGĐ đặc biệt là những biện pháp mới được giới thiệu và phải thực hiện tại các cơ sở y tế như: Dụng cụ tử cung, Tiêm tránh thai và que cấy tránh thai(1).

Điểm mạnh của các PTTT này đó là sử dụng một lần có thể ngừa thai được một thời gian dài vài tháng đến vài năm và có thể có thai trở lại sau khi ngừng sử dụng. Sử dụng PTTT tạm thời dài hạn người phụ nữ có quyền chủ động ngừa thai trong thời gian dài mà không cần quan tâm nhiều đến PTTT này. Đây cũng là nhóm biện pháp chi phí hiệu quả cao trong các can thiệp Y tế công cộng giảm tỉ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em cũng như giúp cải thiện bình đẳng giới (2). Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 60% (1,1 tỷ) trong 1,9 tỷ phụ nữ độ tuổi sinh sản sử dụng các PTTT với 3/4 sử dụng các PTTT hiện đại (2).

Tuy vậy, tỉ lệ được cung ứng đầy đủ PTTT còn thấp ở nhiều nước có thu nhập thấp và trung bình như các nước tại Trung và Tây Phi (3), (4). Tại Việt Nam, công tác KHHGĐ qua 60 năm (1961-2021) được đánh giá rất thành công khi tỉ lệ tăng dân số giảm mạnh xuống còn 1,44% vào năm 2019 (5) với tổng tỷ suất sinh (TFR) ổn định với mức sinh thay thế 2,09 con/phụ nữ (5). Tỉ lệ sử dụng PTTT đạt 76,5%, trong đó PTTT hiện đại chiếm 2/3 (6). Cơ cấu các PTTT cũng được đa dạng hoá với nhiều lựa chọn các PTTT hiện đại như dung cụ tử cung, thuốc tránh thai, bao cao su, v.

Việc tiếp thị xã hội các PTTT cũng thành công khi người dân đã quen mua khi 2 cần thay vì nhận miễn phí (8). Trong giai đoạn tới, đa dạng hóa PTTT vẫn là ưu tiên của chương trình KHHGĐ. Trong đó, các PTTT tránh thai tạm thời sử dụng dài hạn hiện có tỷ lệ sử dụng còn thấp trừ DCTC. Theo thống kê năm 2018, tỷ lệ sử dụng DCTC đạt 46,0%, thuốc tiêm tránh thai đạt 1,6% và que cấy tránh thai chỉ đạt 0,4% (5).

Yếu tố như: hiểu biết, thái độ, thực hành của người phụ nữ hay các yếu tố liên quan tới hoạt động chương trình Dân số - KHHGĐ, tác động của xã hội, những người xung quanh, các dịch vụ y tế, các hoạt động truyền thông tỉ lệ thất bại thấp là các yếu tố có liên quan tới sử dụng các PTTT tạm thời dài hạn (9, 10). Thị trấn Tràm Chim nằm ngay trung tâm của huyện, là một trong 12 xã của huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, là nơi tập trung dân cư đông đúc, trình độ dân trí, điều kiện kinh tế và là nơi thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình khá tốt của huyện. Thị trấn có khoảng 10.850 dân với 1/5 là phụ nữ 18-49 tuổi có chồng (2134 người). Đa số phụ nữ sống bằng nghề buôn bán và nghề nông.

Trong năm 2019 có 79% các cặp vợ chồng áp dụng các PTTT hiện đại, trong số đó tỉ lệ sử dụng các PTTT tạm thời dài hạn như: thuốc tiêm tránh thai 14,1%, thuốc cấy tránh thai 0,86% và dụng cụ tử cung (DCTC) đạt 35% (11). Hiện chúng tôi tìm thấy ít nghiên cứu về sử dụng và yếu tố liên quan tới sử dụng PTTT tạm thời dài hạn tại tỉnh Đồng Tháp. Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng phụ nữ có chồng sử dụng các PTTT hiện đại tạm thời dài hạn của thị trấn Tràm Chim như thế nào ngoài báo cáo của chương trình? Và những yếu tố nào liên quan tới thực trạng này? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18- 49 tuổi có chồng tại thị trấn Tràm Chim huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Mô tả thực trạng sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18-49 tuổi có chồng tại thị trấn Tràm Chim huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18-49 tuổi có chồng tại thị trấn Tràm Chim huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính của đề cương 1.

Phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn Phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời được chia thành hai nhóm, nhóm ngắn hạn và nhóm dài hạn. Nhóm dài hạn là "phương tiện tránh thai một lần sử dụng cho hiệu quả tránh thai tới nhiều tháng hoặc nhiều năm" (1). Nhóm PTTT này bao gồm dụng cụ tử cung (DCTC), thuốc tiêm tránh thai, que cấy tránh thai. Các PTTT này phải thực hiện tại cơ sở y tế do cán bộ y tế có chuyên môn thực hiện (1).

Ngoài ra, do chưa được phổ biến (chưa sẵn có) nên miếng dán tránh thai không được nghiên cứu trong đề tài này. Dụng cụ tử cung Dụng cụ tử cung (DCTC) hay vòng tránh thai là một trong những PTTT tạm thời được sử dụng rộng rãi ở những nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam do đây là biện pháp có thời gian tác động lâu với hiệu quả cao, đơn giản và dễ dùng cũng như rẻ tiền. Ở Việt Nam, DCTC đã được coi là một trong những PTTT chiến lược của chương trình DS-KHHGĐ. Hiện nay, DCTC ở Việt Nam có hai loại chính là Multiload và TCu 380.

Gần đây, DCTC có chưa nội tiết tố là Mirena cũng bắt đầu được sử dụng trên thị trường. Sau khi được đặt vào tử cung, DCTC sẽ tạo ra hiệu quả tránh thai trong nhiều năm. Cơ chế tránh thai chính của DCTC là cản trở noãn và tinh trùng gặp nhau (thay đổi nội mạc tử cung) cũng như ngăn cản trứng đã thụ tinh làm tổ trong buồng tử cung. DCTC hiện nay là biện pháp được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam với tỉ lệ có xu hướng giảm dần giai đoạn 2005-2018 (5).

Năm 2018 tỉ lệ sử dụng DCTC là 46,0% (5). Ưu điểm lớn nhất của DCTC là hiệu quả tránh thai cao và kéo dài trong thời gian dài (97%-99% trong khoảng 5-8 năm tùy loại) và khả năng phục hồi sinh sản nhanh sau khi tháo. Thao tác đặt và tháo DCTC khá đơn giản và có thể thực hiện tại các cơ sở y tế tuyến thấp nhất. Về nhược điểm, DCTC chỉ được đặt và tháo tại các cơ sở y tế với cán bộ chuyên môn được đào tạo.

Việc tháo và thay DCTC cần tuân 5 thủ quy định và hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất. Bên cạnh đó, DCTC có khá nhiều tác dụng phụ bao gồm đau bụng và rong huyết trong các chu kỳ đầu sau khi đặt. Phụ nữ cũng có thể ra nhiều khí hư do phản ứng của nội mạc tử cung và thường hiện tượng này giảm dần theo thời gian. DCTC cũng không giúp phòng chống được các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Thuốc tiêm tránh thai Tương tự như DCTC, thuốc tiêm tránh thai cũng là một phương tiện tránh thai chứa hormon tạm thời với hiệu quả cao (>95%). Thuốc tiêm được nghiên cứu và sản xuất rộng rãi trong những năm 1970 cho đến này. Hiện nay, hàng năm có khoảng hơn 16 triệu phụ nữ ở 90 quốc gia đang sử dụng thuốc tiêm trên toàn thế giới (12). Các loại thuốc tiêm phổ biến là thuốc tiêm chỉ có progestin hoặc thuốc chứa cả hai hormone progestin và estrogen.

Cơ chế tác dụng của thuốc cũng là ngăn rụng trứng và tăng chất nhầy ở lối vào cổ tử cung giúp hạn chế tinh trùng đi vào vòi trứng và hạn chế sự phát triển của niêm mạc tử cung dẫn đến trứng đã thụ tinh không thể làm tổ. Gần đây, một loại thuốc tiêm tránh thai mới được phát triển cho phép tiêm dưới da (dưới da) thay vì tiêm bắp (13). Với loại thuốc này, phụ nữ có thể tự tiêm thuốc tại nhà mà không cần đến cán bộ y tế (14). Ở Việt Nam, loại thuốc tiêm tránh thai phổ biến là loại chỉ có progestin với tên gọi Depoprovera.

Thuốc tiêm sử dụng bằng cách tiêm bắp sâu định kỳ với tác dụng tránh thai từ 1-3 tháng tùy từng loại thuốc. Vì thế, thuốc tiêm cũng là loại tránh thai có thời gian tác dụng dài và không cần dùng mỗi ngày nên sẽ giúp phụ nữ tránh hiện tượng quên uống thuốc như thuốc uống. Ngoài ra, thuốc tiêm cũng làm giảm nguy cơ u xơ tử cung và ung thư niêm mạc tử cung ở phụ nữ. Tuy nhiên, thuốc tiêm cũng có tác dụng phụ với người dùng bao gồm rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, tăng cân nhanh và chậm có khả năng thai trở lại khi ngừng dùng (1).

Thuốc tiêm cũng không giúp phòng chống được các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Thuốc tiêm không phải là một PTTT phổ biến ở Việt Nam với tỉ lệ sử dụng khoảng 1,6% ở phụ nữ đã có chồng năm 2018 (5). Tuy vậy, trong nhóm phụ nữ hiện 6 đang có chồng và có nhiều hơn 3 con hiện đang còn sống, thuốc tiêm lại có tỉ lệ sử dụng tương đối cao với 36,1% (5). Que cấy tránh thai Tương tự như các phương tiện tránh thai tạm thời dài hạn, que cấy tránh thai là một PTTT có hiệu quả cao (99%) với thời gian tác dụng kéo dài từ 3-5 năm sau một lần cấy duy nhất.

Que cấy tránh thai là những ống nhỏ chứa thuốc tránh thai (nội tiết tố levonorgestrel hay etonogestrel) và được cấy dưới da tay phụ nữ. Que có tác dụng tránht hai ngay sau 24 tiếng được cấy. Cơ chế tránh thai của que cấy là làm cổ tử cung đặc chất nhầy từ đó ngăn cản tinh trùng đi vào buồng tử cung và ngăn cản quá trình rụng trứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thực Trạng Sử Dụng Phương Tiện Tránh Thai Hiện Đại Tạm Thời Của Phụ Nữ Có Chồng Tại Tràm Chim, Đồng Tháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời trong cộng đồng phụ nữ có chồng tại Tràm Chim, Đồng Tháp. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những thách thức mà phụ nữ gặp phải trong việc tiếp cận và sử dụng các biện pháp tránh thai, mà còn chỉ ra những lợi ích của việc áp dụng các phương pháp này, như giảm thiểu tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và cải thiện sức khỏe sinh sản.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Kiến thức thái độ của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng về dự phòng dị tật bẩm sinh ở trẻ và một số yếu tố liên quan tại xã Động Đạt và Yên Lạc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên năm 2021. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thái độ và kiến thức của phụ nữ đối với các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản và dự phòng dị tật bẩm sinh.

Những thông tin từ tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt được thực trạng mà còn mở ra những hướng đi mới trong việc nâng cao nhận thức và cải thiện sức khỏe sinh sản cho phụ nữ trong cộng đồng.