Luận văn: Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại TTYT Thuận An

Luận văn phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại TTYT Thuận An, Bình Dương năm 2019. Đánh giá cơ cấu thuốc và tình hình kê đơn điều trị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp II

2020

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Đại cương về kháng sinh và tình hình sử dụng

Kháng sinh là những chất có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn, được ứng dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh nhiễm trùng. Tại Trung tâm Y tế Thị xã Thuận An năm 2019, việc sử dụng kháng sinh đã trở thành một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt. Theo các nghiên cứu trên thế giới, lạm dụng kháng sinh dẫn đến hiện tượng kháng thuốc ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, tỷ lệ sử dụng kháng sinh không hợp lý vẫn còn khá cao, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và gây ra các tác dụng phụ không mong muốn cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa và phân loại kháng sinh

Kháng sinh được phân loại dựa trên cơ cấu hóa học và cơ chế tác dụng. Các nhóm chính bao gồm Beta-lactam, Macrolide, Fluoroquinolone và các nhóm khác. Mỗi nhóm có chỉ định, liều dùng và tác dụng phụ khác nhau, cần được sử dụng đúng theo quy định của Bộ Y tế để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

1.2. Nguyên tắc kê đơn kháng sinh hợp lý

Kê đơn kháng sinh phải tuân thủ các nguyên tắc: chẩn đoán xác định, chọn đúng loại, liều lượng phù hợp, thời gian điều trị hợp lý. Bác sĩ cần đánh giá tình trạng bệnh nhân, kiểm tra chống chỉ định và tương tác thuốc. Việc giám sát sử dụng kháng sinh tại các cơ sở y tế giúp giảm thiểu kháng thuốc và cải thiện chất lượng điều trị.

II. Thực trạng sử dụng kháng sinh tại TTYT Thuận An 2019

Nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh tại Trung tâm Y tế Thị xã Thuận An năm 2019 cho thấy nhiều điểm cần cải thiện trong quản lý và sử dụng thuốc. Danh mục kháng sinh được sử dụng khá đa dạng, từ các loại biệt dược gốc đến generic. Tỷ lệ bệnh nhân được kê kháng sinh trong điều trị ngoại trú chiếm tỷ lệ đáng kể. Các nhóm kháng sinh như Beta-lactamFluoroquinolone là những nhóm được sử dụng phổ biến nhất tại trung tâm này.

2.1. Cơ cấu danh mục kháng sinh theo nguồn gốc

Phân tích cho thấy kháng sinh được sử dụng bao gồm cả biệt dược gốcgeneric. Giá trị tiêu thụ kháng sinh chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng giá trị tiêu thụ thuốc. Các kháng sinh nhập khẩu và nội địa đều được sử dụng, phục vụ cho các bệnh lý nhiễm trùng khác nhau ở bệnh nhân ngoại trú và nội trú tại TTYT Thuận An.

2.2. Tỷ lệ kê kháng sinh trong điều trị ngoại trú

Trong điều trị ngoại trú, số lượng bệnh nhân được kê kháng sinh phản ánh mức độ sử dụng thuốc tại cơ sở y tế. Số ngày dùng kháng sinh trung bình, số lượng kháng sinh trong mỗi đơn thuốc đều được theo dõi để đánh giá sự hợp lý. Các chẩn đoán như viêm đường hô hấp, viêm đường tiết niệu là những bệnh chỉ định sử dụng kháng sinh phổ biến nhất.

III. Phân tích các nhóm kháng sinh sử dụng

Các nhóm kháng sinh được sử dụng tại TTYT Thuận An năm 2019 đa dạng và phong phú. Nhóm Beta-lactam bao gồm Amoxicillin, Cephalosporin là nhóm được sử dụng nhiều nhất với số khoản mục và giá trị tiêu thụ cao. Nhóm Macrolide như Azithromycin cũng được kê đơn thường xuyên. Nhóm Fluoroquinolone được sử dụng cho các trường hợp nhiễm trùng phức tạp hơn. Sự phân bố các nhóm này phản ánh đặc điểm bệnh lý tại địa phương và tình hình kháng thuốc hiện nay.

3.1. Nhóm Beta lactam nhóm kháng sinh hàng đầu

Amoxicillin và các Cephalosporin thế hệ thứ 3 chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số kháng sinh được sử dụng. Những kháng sinh này được chỉ định cho nhiều loại bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gram dương và một số gram âm. Liều dùng và thời gian điều trị cần phải tuân thủ hướng dẫn của Bộ Y tế để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

3.2. Các nhóm kháng sinh khác Macrolide Fluoroquinolone

Azithromycin được sử dụng cho viêm đường hô hấp, trong khi Fluoroquinolone được chỉ định cho các trường hợp nặng hơn. Tỷ lệ sử dụng của các nhóm này tương đối thấp hơn so với Beta-lactam nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong quản lý các bệnh nhiễm trùng phức tạp.

IV. Các khuyến nghị cải thiện sử dụng kháng sinh hợp lý

Để cải thiện thực trạng sử dụng kháng sinh tại TTYT Thuận An, cần phải triển khai các biện pháp giám sát và quản lý chặt chẽ. Xây dựng quy trình kê kháng sinh rõ ràng, thực hiện đánh giá sử dụng kháng sinh định kỳ, đào tạo nâng cao kiến thức cho các bác sĩ về sử dụng kháng sinh hợp lý. Cần tăng cường kiểm soát thuốc kháng sinh, hạn chế kháng thuốc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hợp tác với các chuyên gia trong lĩnh vực nhiễm trùng để cập nhật những hướng dẫn mới nhất về điều trị.

4.1. Giám sát và đánh giá sử dụng kháng sinh định kỳ

Thực hiện các cuộc đánh giá sử dụng kháng sinh (DUE) định kỳ nhằm phát hiện những sai sót trong kê đơn. Theo dõi các chỉ số như DDD (Defined Daily Dose), tỷ lệ kháng sinh được kê, số ngày dùng kháng sinh trung bình. Lập báo cáo định kỳ và phối hợp với ban lãnh đạo để có những can thiệp kịp thời nhằm cải thiện chất lượng kê đơn.

4.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Tổ chức các buổi tập huấn, seminar về sử dụng kháng sinh hợp lý cho bác sĩ, dược sĩ và điều dưỡng. Cập nhật các hướng dẫn mới nhất từ Bộ Y tế về chỉ định, liều dùng kháng sinh. Tăng cường giáo dục cho bệnh nhân về sử dụng kháng sinh đúng cách, không tự ý mua bán và sử dụng kháng sinh ngoài cơ sở y tế.

22/12/2025
Vũ thị tuyết xuân phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại trung tâm y tế thị xã thuận an tỉnh bình dương năm 2019 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp ii

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Kháng sinh (KS) đang là một trong những nhóm thuốc chiếm tỷ trọng tiền thuốc cao và được sử dụng rộng rãi nhất tại các bệnh viện của Việt Nam hiện nay. Kể từ khi Penicillin được phát hiện vào năm 1928 và sau đó đi vào sản xuất, sử dụng đại trà, cứu sống hàng triệu con người, cho đến nay đã có rất nhiều thế hệ/chủng loại kháng sinh mới được phát hiện hoặc nhân tạo, đáp ứng với điều kiện phát triển, kháng thuốc của vi khuẩn và nhu cầu chữa bệnh của con người. Những thập kỷ gần đây, các hãng dược phẩm đang có xu hướng từ bỏ cam kết nghiên cứu phát triển kháng sinh mới. Trong khi đó, tình hình vi khuẩn kháng kháng sinh đốí với các kháng sinh hiện có ngày càng gia tăng và trở thành mối quan ngại của toàn cầu.

Nhiều chuyên gia chống nhiễm khuẩn cho rằng công cuộc nghiên cứu chống vi khuẩn đang trên đà xuống dốc nghiêm trọng [19]. Thực tế đó đang là tiếng chuông cảnh báo rằng, con người rất có thể sẽ thua trong cuộc chiến chống vi khuẩn. Và vì vậy, việc sử dụng kháng sinh không hiệu quả và hợp lý không chỉ là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh mà còn là nguyên nhân làm gia tăng kháng kháng sinh của vi khuẩn đối với các kháng sinh hiện có [19]. Do đó, các nghiên cứu khoa học liên quan đến kháng sinh luôn là hướng nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực.

Việt Nam đã và đang cùng hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Tổ chức y tế thế giới đã có những “Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020” nhằm đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống kháng thuốc góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân [3]. Việc sử dụng KS hợp lý là mối quan tâm lớn của ngành Y tế nước ta. Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-BYT ngày 04 tháng 3 năm 2016 về hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng KS trong bệnh viện, nhằm cung cấp một bộ tài liệu hướng dẫn chi tiết về quản lý sử dụng KS với mục đích tăng cường sử dụng KS hợp lý, giảm hậu quả không mong muốn khi dùng KS, nâng cao chất lượng chăm 1 sóc người bệnh, ngăn ngừa vi khuẩn đề kháng KS, giảm chi phí y tế [10]. Nhằm có cái nhìn tổng quát về việc sử dụng KS trong điều trị cho BN ngoại trú tại Trung tâm y tế Thị xã Thuận An, từ đó xác định vấn đề cần can thiệp và đề ra các giải pháp góp phần vào việc sử dụng KS hợp lý, an toàn và hiệu quả, đề tài: “Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại Trung tâm y tế Thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương năm 2019” được thực hiện với các mục tiêu sau: 1.

Phân tích cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh sử dụng tại Trung tâm y tế thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương năm 2019. Phân tích đơn thuốc điều trị ngoại trú có sử dụng kháng sinh tại TTYT thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương năm 2019. TỔNG QUAN Đại cương về kháng sinh 1. Sự phát triển của kháng sinh Trước thế kỷ XX, con người đã sử dụng các loại cây thuốc có chứa hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên để tiêu diệt các chủng vi sinh vật gây bệnh.

Năm 1928, Alexander Fleming tìm ra Penicillin, loại kháng sinh hiện đại đầu tiên, được xem là một trong những cột mốc quan trọng của lịch sử Y học. Năm 1940, các nhà khoa học Howard Florey, Ernest Chain công bố công trình nhằm ứng dụng và nâng cao hiệu quả của Penicillin trên lâm sàng, nhờ đó kháng sinh được sản xuất trên quy mô lớn. Kháng sinh đã đóng góp đáng kể vào việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và gây tử vong ở con người [15]. Với vai trò quan trọng trong điều trị bệnh, kháng sinh ngày nay được khoa học quan tâm và phát triển.

Đã có thêm nhiều hợp chất được tổng hợp, bán tổng hợp có tác dụng kháng khuẩn như Sulfonamid, Streptomycin, Quinolon. Giai đoạn từ thập niên 1950-1970 được coi là kỷ nguyên vàng của kháng sinh, sau đó không có nhiều kháng sinh mới ra đời [15]. Một số nhóm kháng sinh phổ biến và đặc điểm tác dụng của các nhóm này được trình bày trong Bảng 1. Định nghĩa kháng sinh: “Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác.

Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon. Phân loại kháng sinh Theo cấu trúc hóa học 3 Bảng 1. 1 Đặc điểm, tác dụng của một số nhóm kháng sinh STT Nhóm kháng sinh Thế hệ/Thuốc trong nhóm I/Penicillin Các penicilin phổ kháng khuẩn hẹp. Các penicilin phổ kháng khuẩn hẹp đồng thời có tác dụng trên tụ cầu.

Các penicilin phổ kháng khuẩn trung bình. Các penicilin phổ kháng khuẩn rộng đồng thời có tác dụng trên trực khuẩn mủ xanh. Beta-lactam II/ Cephalosporin Thế hệ 1: cefazolin, cephalexin, cefadroxil. Thế hệ 2: cefoxitin, cefaclor, cefuroxim… Thế hệ 3: cefotaxim, ceftriaxonc,ceftazidim… Thế hệ 4: cefepim III/ Các Beta-lactam khác Monobactam: aztreonam… Carbapenem: imipenem, meropenem… Kanamycin, gentamicin, neltimicin, tobramycin, 2 Aminoglycosid amikacin,… Erythromycin, azithromycin, roxithromycin, 3 Macrolid clarithromycin, spiramycin.

4 Lincosamid Lincomycin, clindamycin 5 Phenicol Cloramphenicol, thiamphenicol 6 Cyclin Tetracyclin, oxytetracyclin, demeclocyclin,… Glycopeptid: vancomycin, teicoplanin 7 Peptid Polypetid: polymyxin, colistin Lipopeptid: daptomycin Thế hệ 1: acid nalidixic, cinoxacin Thế hệ 2: enoxacin, ofloxacin, ciprofloxacin…. 8 Quinolon Thế hệ 3: levofloxacin, sparfloxacin,… Thế hệ 4: trovafloxacin Sulfonamid:sulfamethoxazol, sulfamethiol, sulfaguanidin sulfacetamid, sulfadoxin… Các nhóm kháng 9 Oxazolidinon:linezolid sinh khác 5-nitroimidazol: metronidazol, tinidazol, ornidazol… Theo tính nhạy cảm của vi khuẩn với KS Dựa vào tính nhạy cảm của VK với KS, người ta chia KS thành các nhóm: 4 - KS kìm khuẩn và KS diệt khuẩn. - KS phụ thuộc nồng độ và KS phụ thuộc thời gian. - KS có hiệu ứng hậu dài, trung bình, ngắn và không có hiệu ứng hậu KS.

Nguyên tắc sử dụng kháng sinh Sử dụng thuốc hợp lý là việc dùng thuốc đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng [6]. Lựa chọn kháng sinh và liều lượng Lựa chọn KS dựa trên hai yếu tố người bệnh và đối tượng gây bệnh. Yếu tố người bệnh bao gồm tuổi, tiền sử, tình trạng có thai, cho con bú… Yếu tố vi khuẩn bao gồm loại vi khuẩn và độ nhạy của vi khuẩn đối với kháng sinh [6]. Liều KS: Phụ thuộc yếu tố người bệnh như trẻ em, người già, chức năng gan thận… Do đặc điểm khác biệt về dược động học, liều lượng cho trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và nhũ nhi có hướng dẫn riêng theo từng chuyên luận.

Liều lượng trong các tài liệu hướng dẫn chỉ là gợi ý ban đầu. Không có liều chuẩn cho các trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến thất bại điều trị và tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc. Ngược lại, với những KS có độc tính cao, phạm vi điều trị hẹp (ví dụ: các aminoglycosid, polypeptide), phải bảo đảm nồng độ thuốc trong máu theo khuyến cáo để tránh độc tính [6].

Như bệnh viêm phế quản cấp ở người lớn khi điều trị : a) Kháng sinh cho viêm phế quản cấp - Hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp không cần dùng kháng sinh. - Chỉ dùng kháng sinh cho những trường hợp: (1) cải thiện lâm sàng chậm, hoặc không cải thiện; (2) ho khạc đờm mủ, đờm màu vàng, hoặc màu xanh, (3) người bệnh có kèm bệnh tim, phổi, thận, gan, thần kinh cơ, suy giảm miễn dịch; 5 (4) người bệnh > 65 tuổi có ho cấp tính kèm thêm 2 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau; hoặc người bệnh trên 80 tuổi kèm thêm 1 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau: nhập viện trong 1 năm trước; có đái tháo đường typ 1 hoặc typ 2; tiền sử suy tim sung huyết; hiện đang dùng corticoid uống. - Thiếu bằng chứng về hiệu quả của điều trị kháng sinh thường quy cho viêm phế quản cấp. b) Lựa chọn kháng sinh nào cho các trường hợp viêm phế quản cấp - Nên chọn kháng sinh nhóm macrolid, hoặc doxycyclin cho những trường hợp viêm phế quản cấp ở người trước đó hoàn toàn khỏe mạnh; kháng sinh nhóm beta-lactam phối hợp với chất ức chế beta-lactamase hoặc nhóm quinolon nên được lựa chọn ban đầu trong điều trị các trường hợp viêm phế quản cấp có tiền sử dùng kháng sinh trong vòng 3 tháng gần đây, hoặc viêm phế quản cấp ở người có tuổi cao, có bệnh mạn tính kèm theo.

- Khi hướng tới căn nguyên Mycoplasma pneumoniae hoặc Chlamydophila pneumoniae: + Người bệnh đôi khi có viêm phế quản cấp do M. Hướng tới chẩn đoán những căn nguyên này khi người bệnh có ho kéo dài và triệu chứng đường hô hấp trên điển hình. Tuy nhiên, điểm hạn chế là thiếu các phương tiện để chẩn đoán thường quy. + Cả hai tác nhân này đều nhạy cảm với tetracyclin, macrolid, và fluoroquinolon.

Trong thực hành lâm sàng, các kháng sinh này thường chỉ được khuyến cáo điều trị theo kinh nghiệm khi có những vụ dịch bùng phát. + Influenza virus: Không có thuốc điều trị đặc hiệu, trong trường hợp nặng có thể dùng các thuốc ức chế neuraminidase (oseltamivir hoặc zanamivir). Để đạt hiệu quả tối ưu, thuốc nên được dùng ngay trong vòng 48 giờ kể từ khi bắt đầu có triệu chứng. + Thời gian dùng kháng sinh: thường 7-10 ngày.[6] 6 Hoặc bệnh viêm dạ dày-tá tràng (HP+) khi điều trị bằng kháng sinh thì điều trị ít nhất phải 2 loại KS.

a) Nguyên tắc - Cần bắt buộc làm xét nghiệm H. - Sử dụng kháng sinh đường uống, không dùng kháng sinh đường tiêm. - Phải điều trị phối hợp thuốc giảm tiết acid với ít nhất 2 loại kháng sinh. - Không dùng một loại kháng sinh đơn thuần.

b) Phác đồ lựa chọn đầu tiên: Chỉ ở nơi kháng clarithromycin < 20%. Khi dùng 14 ngày hiệu quả hơn 7 ngày: - Thuốc ức chế bơm proton (PPI) và 2 trong 3 kháng sinh: + Clarithromycin 500 mg x 2 lần/ngày. + Amoxicilin 1000 mg x 2 lần/ngày. + Metronidazol 500 mg x 2 lần/ngày.

c) Phác đồ 4 thuốc thay thế: Khi có kháng kháng sinh hoặc tại vùng có tỉ lệ kháng clarithromycin trên 20%, dùng 14 ngày bao gồm: - Thuốc ức chế bơm proton (PPI). - Colloidal bismuth subsalicylat/subcitrat 120 mg x 4 lần/ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ