ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng các công cụ được xác nhận và chuẩn hóa, đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy ngày càng được chú trọng trong các nghiên cứu nói chung cũng như các nghiên cứu trong lĩnh vực điều dưỡng nói riêng, giúp so sánh kết quả giữa các nghiên cứu khác nhau trong nước và quốc tế, đồng thời việc sử dụng các công cụ đã được xác nhận, chuẩn hóa làm tăng độ chính xác của những gì mà chúng đo lường [1]. Tuy nhiên, không phải tất cả các công cụ đã được xác nhận là có giá trị theo thời gian, nền văn hóa hoặc bối cảnh khác nhau [2]. Nhiều nghiên cứu gần đây đã tìm thấy có nhiều lỗ hổng trong việc sử dụng công cụ đo lường trong nghiên cứu [3]. Những vấn đề và thách thức trong việc sử dụng bộ công cụ đo lường trong nghiên cứu có nguy cơ ảnh hưởng lớn của nền tảng kiến thức mới mà nghiên cứu khoa học tạo ra.
Mặc dù, việc sử dụng các bộ công cụ được chuẩn hóa ở các nền văn hóa khác nhau được áp dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, không có quy định chung về cách điều chỉnh một bộ công cụ để sử dụng trong môi trường văn hóa khác nhau. Mặc dù, có sự nhất trí rằng sẽ không phù hợp nếu chỉ dịch và sử dụng bộ công cụ trong các ngữ cảnh ngôn ngữ khác nhau [4]. Ngược lại, các nghiên cứu có thể có một quy trình dịch toàn diện về ngôn ngữ, nhưng điều này vẫn không đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ [2].
Ví dụ, một bộ câu hỏi hỏi về hoạt động thể chất và có hoạt động trượt tuyết có thể không phù hợp ở những nơi không có tuyết [5]. Hoặc, một bộ công cụ đánh giá trầm cảm trên các đối tượng sử dụng chất gây nghiện có khả năng dẫn đến nhầm lẫn các triệu chứng của trầm cảm với các triệu chứng say và cai nghiện. Ngoài ra, các công cụ đã được xác nhận sau một thời gian có thể không còn giá trị trong thời điểm hiện tại do những thay đổi trong xã hội diễn ra liên tục [6]. Trong các nghiên cứu mà một hiện tượng được đo lường một cách độc lập bằng bộ câu hỏi, việc so sánh kết quả giữa các nền văn hóa và các nhóm người có thể là một thách thức.
Đặc biệt, sẽ rất khó so sánh nếu quá trình thích ứng bộ công cụ có sai sót. Do đó, điều quan trọng là mỗi bộ công cụ khi được áp dụng cần được được điều chỉnh một cách thích hợp. Bởi lẽ đó, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tiếp tục được thực hiện để đánh giá việc sử dụng bộ công cụ và kết quả và cho thấy có những khoảng trống chủ yếu về mặt tâm lý học khi sử dụng các bộ công cụ đo lường. Tuy nhiên, để đưa ra kết luận từ dữ liệu và tự tin tổng quát hóa các kết quả, các công cụ phải đo lường nhất quán những 2 gì mà chúng dự kiến đo lường – điều này thể hiện qua việc đánh giá tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ đo lường [7].
Có thể việc thực hiện các nghiên cứu thực hành dựa trên bằng chứng cũng không đảm bảo khoa học nếu các vấn đề về công cụ đo lường không được giải quyết theo đúng quy trình [3]. Kết quả của những vấn đề liên quan đến công cụ đo lường này là do chưa hiểu rõ các chiến lược hiệu quả để kiểm định các bộ công cụ [8]. Nếu không chú ý nhiều hơn nữa đến những vấn đề này, khoa học sẽ phải đối mặt với nguy cơ xây dựng nên một khối kiến thức đồ sộ mà không có nền tảng khoa học vững chắc [9]. Trường là một cơ sở giáo dục đại học chuyên ngành điều dưỡng duy nhất ở Việt Nam.
Năm 2015, Nhà trường bắt đầu đào tạo điều dưỡng trình độ thạc sỹ với số lượng tuyển sinh trung bình 30 học viên mỗi năm, mỗi khóa đào tạo kéo dài 2 năm, học viên tốt nghiệp với sản phẩn cuối cùng là bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp thạc sỹ điều dưỡng - một công trình nghiên cứu khoa học. Các luận văn tốt nghiệp có nội dung nghiên cứu tập trung vào việc mô tả, đánh giá các phương pháp quản lý điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh tại bệnh viện hoặc cộng đồng. Trong mỗi luận văn đều sử dụng một hoặc một số bộ công cụ để thu thập, đo lường số liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, đến nay chưa có đánh giá chính thức nào về việc sử dụng các bộ công cụ nghiên cứu trong các luận văn tốt nghiệp này.
Để có cơ sở khoa học hỗ trợ cho chuẩn hóa các công cụ nghiên cứu trong tương lai, tiếp tục duy trì chất lượng các nghiên cứu trong các luận văn tốt nghiệp, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Thực trạng sử dụng bộ công cụ nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ tại Trường”, nhằm 2 mục tiêu: 1) Mô tả thực trạng và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng bộ công cụ nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học giai đoạn 2016 - 2020. 2) Đề xuất giải pháp tăng cường tuân thủ quy trình sử dụng bộ công cụ nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ tại Trường Đại. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Công cụ nghiên cứu 1.
Các khái niệm về công cụ nghiên cứu - Công cụ nghiên cứu: Là các công cụ đo lường, bao gồm bộ câu hỏi, bảng khảo sát, phỏng vấn, bảng kiểm hoặc các bài đánh giá đơn giản. Việc lựa chọn sử dụng loại công cụ nghiên cứu cụ thể sẽ do nhà nghiên cứu quyết định. Nó cũng sẽ liên quan chặt chẽ đến các phương pháp thực tế sẽ được sử dụng trong nghiên cứu cụ thể. Bộ công cụ nghiên cứu được thiết kế để thu thập dữ liệu về một chủ đề mà đối tượng nghiên cứu quan tâm.
Mỗi công cụ nghiên cứu được nhà nghiên cứu phát triển cung cấp một số thông tin bao gồm mục đích của công cụ, đối tượng được đo lường, các biến được đo lường. Đồng thời bộ công cụ cung cấp thông tin chi tiết về việc xác nhận và sử dụng công cụ nghiên cứu trên các đối tượng cụ thể [1]. Các công cụ nghiên cứu thường được sử dụng trong các lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học sức khỏe. Một công cụ nghiên cứu tốt là một công cụ đã được kiểm chứng và có độ tin cậy.
Đó là bộ công cụ có thể thu thập dữ liệu theo cách phù hợp với câu hỏi nghiên cứu được đặt ra. Công cụ nghiên cứu phải có khả năng hỗ trợ trả lời các mục đích nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, cũng như chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết của nghiên cứu. Công cụ nghiên cứu không nên có bất kỳ sự sai lệch nào trong cách thu thập dữ liệu và phải rõ ràng về cách sử dụng để khảo sát trên đối tượng nghiên cứu [7]. - Thích nghi bộ công cụ Việc sử dụng các công cụ nghiên cứu được tiêu chuẩn hóa ngày càng được chú trọng, một lý do cho điều này là giả định rằng nó cho phép so sánh các kết quả giữa các nghiên cứu khác nhau ở cả quốc gia và quốc tế [2].
Một giả định khác là việc sử dụng các công cụ đã được xác nhận làm tăng độ chắc chắn mà các công cụ đó phản ánh chính xác những gì chúng cần phải đo lường. Tuy nhiên, một công cụ đã được xác nhận trước đây không có nghĩa là nó có giá trị qua thời gian, nền văn hóa hoặc bối cảnh khác. Không có quy định chung về cách điều chỉnh một công cụ để sử dụng trong môi trường văn hóa khác nhau, nhưng sẽ không phù hợp nếu chỉ dịch và sử dụng bộ câu hỏi trong ngữ cảnh ngôn ngữ khác nhau. Ngược lại, các nghiên cứu có thể có một quy trình dịch thuật ngôn ngữ phức tạp, nhưng điều này vẫn không đảm bảo tính hợp lệ và độ tin cậy của cấu trúc.
4 Ví dụ, một bộ câu hỏi hỏi về hoạt động thể chất và sử dụng trượt tuyết làm ví dụ có thể không phù hợp ở những nơi không có tuyết [3, 4]. Ngoài ra, các công cụ đã được xác nhận cách đây một thời gian có thể không còn giá trị trong thời điểm hiện tại do những thay đổi trong xã hội diễn ra liên tục. Quá trình thích ứng giữa các nền văn hóa rất quan trọng khi một công cụ được sử dụng ở một ngôn ngữ khác, bối cảnh và thời gian để giảm nguy cơ rủi ro cho nghiên cứu. Trong các nghiên cứu mà một hiện tượng được đo lường một cách độc lập bằng bảng câu hỏi, việc so sánh kết quả giữa các nền văn hóa và các nhóm có thể là một thách thức.
Đặc biệt, sẽ rất khó so sánh nếu quá trình chuyển ngữ có sai sót. Do đó, điều quan trọng là mỗi mục phải được điều chỉnh một cách thích hợp. - Chuyển ngữ (nếu sử dụng bộ công cụ từ ngôn ngữ/nền văn hóa khác) Việc sử dụng một công cụ đã được phát triển và xác nhận trước đó để nghiên cứu có ưu điểm là không chỉ tiết kiệm thời gian và năng lượng mà còn tạo điều kiện xây dựng kiến thức đa văn hóa. Việc sử dụng cùng một công cụ có thể thống nhất việc hình thành khái niệm về hiện tượng được nghiên cứu ở các môi trường tảng khác nhau, và các phát hiện sau đó có thể được so sánh với nhau [10].
Nếu công cụ đã phát triển được sử dụng trong một nhóm đối tượng khác về ngôn ngữ, thì dịch thuật sẽ là một bước quan trọng. Các sai sót trong bản dịch có thể làm sai lệch mục đích ban đầu của công cụ và làm ảnh hưởng đến tính hợp lệ và độ tin cậy của công cụ kết quả [11]. Dịch một công cụ sang một ngôn ngữ khác là một nhiệm vụ nặng nề và tùy thuộc vào các biến thể văn hóa và ngôn ngữ. Báo cáo các vấn đề và kinh nghiệm về phương pháp luận trong công việc dịch thuật đã được nhấn mạnh là cách để cung cấp những hiểu biết sâu sắc và gợi ý để cải tiến trong tương lai [12].
Tất cả các nghiên cứu đa văn hóa với các nhóm đối tượng không nói tiếng Anh phải đối mặt với các vấn đề về chuyển ngữ; nhưng hầu hết các tài liệu đã xuất bản không mô tả và giải thích các quy trình dịch thuật được sử dụng một cách chi tiết.