Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về stress Trong cuộc sống hiện đại thuật ngữ stress xuất hiện ngày càng nhiều, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng thuật ngữ này với những sắc thái khác nhau. Walter Cannon, bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng của Mỹ, định nghĩa stress là biểu hiện khó chịu hay những áp lực của đời sống cá nhân [37].
Hiện nay, stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi. Định nghĩa của Han Selye đưa ra năm 1976 được cho là đầy đủ nhất: “Stress là tình trạng căng thẳng thể hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể” [12]. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính. Stress đặt con người vào quá trình dàn xếp, thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một sự cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường.
Nói cách khác, stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [17]. Các dấu hiệu của stress Các dấu hiệu bị ảnh hưởng bởi stress bao gồm những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội. Cụ thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hay bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ hoặc là ngủ quên và những biểu hiện khó chịu khác cũng là dấu hiệu của stress.
Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi. Người bị stress thường có biểu hiện c 4 là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ra mồ hôi. Biểu hiện cảm xúc là cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, lo âu, trầm cảm, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần… Có những hành vi như lạm dụng chất kích thích (rượu, thuốc lá), dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục… Stress trầm trọng và kéo dài có thề làm tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi trùng và làm tăng nguy cơ tử vong [10], [19]. Nguyên nhân của stress Có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress nhưng thông thường bao gồm 4 nguyên nhân cơ bản sau: Môi trường bên ngoài: Thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi và sự ô nhiễm… Những căng thẳng từ xã hội và gia đình: Các vấn đề về tài chính, do sự mất mát của người thân, mâu thuẫn trong gia đình (cha mẹ ly hôn, tranh chấp, xích mích, bất hòa…), quan hệ bạn bè không tốt, tình yêu tan vỡ hay bị phụ bạc…[3].
Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất dinh dưỡng, ốm đau, bệnh tật. Suy nghĩ của bản thân: Đôi khi, cách chúng ta suy nghĩ hay phiên giải những điều đã hoặc sẽ xảy ra đem đến cho chính mình rất nhiều căng thẳng. Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực. Ví dụ, nếu trượt đại học, tương lai thật mù mịt.
Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng năm 2009 cho thấy các tác nhân gây stress ở trẻ vị thành niên bao gồm 4 nhóm tác nhân là học tập, mối quan hệ với gia đình, mối quan hệ với bạn bè và các tình huống bất thường. Trong đó tác nhân do các tình huống bất thường (trung bình là 1.6) cao hơn so với các c 5 tác nhân khác như học tập (trung bình là 1.5), mối quan hệ với gia đình (trung bình là 1.3) và bạn bè (trung bình là 1. Khi so sánh các tác nhân gây stress cho học sinh theo cấp học thì học sinh cấp 3 chịu áp lực học tập cao hơn học sinh cấp 2, do các em chuẩn bị cho việc lựa chọn nghề sau này và phải đối mặt với nhiều kỳ thi quan trọng như tốt nghiệp Trung học phổ thông, thi đỗ đại học… Cũng theo nghiên cứu này trẻ nam chịu ảnh hưởng từ áp lực học tập cao hơn trẻ nữ [8]. Theo Nguyễn Thị Hằng Phương trong nghiên cứu “Thực trạng và nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình” có 4 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông là: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, liên quan đến bản thân học sinh, liên quan đến gia đình và liên quan đến các mối quan hệ xã hội [20].
Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật và cộng sự phát hiện các yếu tố gây stress ở học sinh như: lo lắng về kết qủa học tập, về tương lai; lo lắng về kinh tế gia đình, về áp lực học tập, tình hình an ninh nơi ở và thiếu bạn chia sẻ khi buồn. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress ở học sinh với tỷ lệ học sinh cảm thấy lo lắng về kết quả học tập, về tương lai và về bệnh của bản thân. Những học sinh lo lắng về kinh tế gia đình bị stress cao gấp 1,56 lần học sinh không lo lắng về kinh tế gia đình. Học sinh lo lắng nhiều về áp lực học tập sẽ bị stress gấp 1,81 lần học sinh không lo lắng.
Tỷ lệ học sinh lo lắng vì không có bạn để chia sẻ cao gấp 1,57 lần học sinh không lo lắng. Nhóm học sinh lo lắng về tình hình an ninh nơi ở bị stress gấp 1,5 lần nhóm không lo lắng [18]. Trong nghiên cứu về stress trong học tập ở học sinh, sinh viên của tác giả Edem Maxwell Azila-Gbettor cho rằng stress có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh, sinh viên và stress là hậu quả của việc học tập vượt quá khả năng của cơ thể [40]. c 6 Tổng quan nghiên cứu “Hiệu quả của việc quản lý căng thẳng về các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở thanh thiếu niên vị thành niên và thanh thiếu niên” của tác giả Zhang Jiapeng Casper, đối với thanh thiếu niên, kiểm tra ở trường học, xung đột gia đình và mối quan hệ bạn bè bất hòa là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến stress và trầm cảm [61].
Ảnh hưởng của stress Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, stress có thể gây nhiều tác động xấu cho bản thân những người mang nó, đồng thời cũng gây ra những bất lợi cho những người xung quanh và xã hội nói chung. Sau đây là những tác động chính mà stress có thể gây ra: Tác động của stress đối với cảm xúc, tâm lý: Trạng thái stress thường biểu hiện rõ ở mặt cảm xúc với các biểu hiện thường gặp như: lo âu, dễ nổi nóng, nổi cáu, hồi hộp, chán nản, sợ hãi, không hài lòng về bản thân (tự đổ lỗi cho bản thân), cảm thấy trống rỗng mất phương hướng, cảm thấy dễ bị tổn thương, căng thẳng…[3]. Đây là những ảnh hưởng ban đầu của stress với các dấu hiệu cơ bản như tinh thần dao động, hành vi thất thường có thể làm bạn bè và gia đình xa lánh, những người bị stress gần như luôn đắm chìm trong các hành vi tiêu cực như bỏ học đi chơi game, dễ có hành vi hung hãn dẫn tới bạo lực học đường, bỏ nhà đi bụi, giao du với những người xấu trong xã hội, có thể làm những người xung quanh và cả xã hội phải trả giá đắt. Áp lực học hành đến từ chương trình học, sự kỳ vọng của cha mẹ vào con cái, tâm lý bằng cấp, không đánh giá đúng năng lực của bản thân con cái để có những đòi hỏi phù hợp,… cũng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần trẻ vị thành niên.
Số lượng học sinh mắc chứng nhiễu tâm (lo âu, trầm cảm, hoảng loạn, hung tính,…) do học tập ngày càng lớn. Thậm chí có những trẻ dẫn tới hành vi tự sát do không biết cách vượt qua stress. Đây là những hậu quả đáng tiếc do stress gây ra. Phản ứng gây stress thông thường có thể giúp thanh thiếu niên phản ứng thích ứng với những thách thức của tuổi vị thành c 7 niên, nhưng có thể dẫn đến sự căng thẳng trong số thanh thiếu niên có nguy cơ cao, làm tăng khả năng bị bệnh tâm thần.
Sự tăng nhạy cảm với kích thích cảm xúc liên quan đến tuổi dậy thì có thể làm trầm trọng thêm các khuynh hướng cá nhân đối với quá trình xử lý tình cảm phóng đại, có thể góp phần vào sự xuất hiện các rối loạn tâm lý ở tuổi trẻ này [59]. Tác động của stress đối với cơ thể: Khi ở trong trạng thái stress, về mặt cơ thể thường có các biểu hiện như: mệt mỏi, đau đầu, đau lưng đau cơ bắp, chóng mặt, đổ mồ hôi, tức ngực khó thở, tay chân bủn rủn, ăn không ngon, ăn quá nhiều hoặc quá ít, khó ngủ, mất ngủ, tim đập nhanh, thở gấp, bị tiêu chảy hoặc táo bón …[3]. Khi rơi vào tình trạng stress tâm lý hay thể chất, cơ thể sẽ gia tăng sản xuất các loại hormon như adrenaline và cortisol. Các hormon này tạo ra các thay đổi rõ rệt ở nhịp tim, huyết áp, sự trao đổi chất và các hoạt động thể chất khác.
Mặc dù đôi khi phản ứng sinh học này giúp hoạt động hiệu quả hơn trong những khoảng thời gian ngắn, nhưng nó cực kỳ nguy hại cho cơ thể nếu xảy ra trong thời gian dài. Tác động của stress đối với sức khỏe và đời sống: Stress kéo dài được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến của nhiều căn bệnh như: Bệnh tâm thần kinh, Bệnh tim mạch, Stress làm da xuất hiện nhiều dấu hiệu xấu, thậm chí các biểu hiện của bệnh tật, ví dụ như mụn sưng đỏ, phồng rộp lên hay là bệnh Zona, Bệnh tiêu hóa, Bệnh tình dục, Bệnh phụ khoa, Bệnh cơ xương khớp hay toàn thân: Suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay bệnh truyền nhiễm. Các thay đổi hành vi chẳng hạn như lạm dụng rượu bia, thuốc lá cũng làm suy giảm đáng kể tình trạng thể chất con người. Các phát hiện cũng cho thấy rằng cần sa thường được sử dụng như là một chiến lược ứng phó với căng thẳng.
Khi cơ thể phải chịu quá mức tình trạng stress, nguy cơ bị lệ thuộc vào rượu là rất cao [3], [54], [43].