ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh răng miệng là bệnh gây nên những tổn thƣơng ở cả tổ chức cứng của răng và các tổ chức quanh răng. Bệnh răng miệng, chủ yếu là sâu răng, viêm lợi và viêm quanh răng, hiện nay vẫn còn là bệnh phổ biến, gặp ở mọi tầng lớp, lứa tuổi. Trong thời gian gần đây, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh răng miệng đã đƣợc cải thiện đáng kể ở những nƣớc phát triển và đang phát triển nhờ những tiến bộ khoa học về phòng bệnh, tỷ lệ mắc bệnh sâu răng viêm lợi vẫn còn ở mức cao. Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh răng miệng chiếm từ 60-100% dân số, bao gồm bệnh sâu răng có tỷ lệ là 50-97% và bệnh quanh răng có từ 78%-98% dân số [1-3].
Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và viêm lợi còn ở mức cao trên 90% dân số và có chiều hƣớng gia tăng vào những năm gần đây [4]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng theo lứa tuổi và thời gian [5]. Một số nghiên cứu trong nƣớc cho thấy, tỷ lệ bệnh răng miệng tại Việt Nam có thể từ 50% đến 100%, trong đó bệnh sâu răng từ 50%-99% và bệnh quanh răng từ 90% đến 100% ở ngƣời trƣởng thành [6]. Tại Hà Nội năm 2007, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trƣơng Mạnh Dũng và Lƣơng Thị Kim Liên trên 595 đối tƣợng có độ tuổi từ 18 đến 45 đã cho thấy tỷ lệ mắc sâu răng khá cao: chỉ số sâu-mất-trám chung là 2,08, của nhóm 18 – 34 tuổi là 1,94; có tới 63,3% sâu răng ở nhóm 18 – 34 tuổi và tăng lên 73,8% ở nhóm tuổi 35 – 44, nữ có tỷ lệ mắc cao hơn nam [7].
Kết quả nghiên cứu của Trần Anh Thắng (2012) tại Hòa Bình cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chung là 56%, chỉ số SMT ở lứa tuổi 18 là 2,12 [8]. Trong những năm gần đây, tầm quan trọng của việc quản lý sức khỏe răng miệng tại nơi làm việc, đặc biệt với các công nhân viên làm việc trong các cơ sở sản xuất, đã đƣợc chú trọng. Tỷ lệ mắc bệnh răng miệng khác nhau tùy theo khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng. Để cải thiện tình trạng sức khỏe răng miệng, đặc biệt là ở ngƣời trƣởng thành, việc cung cấp các 2 dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng tại môi trƣờng làm việc cần đƣợc cải thiện.
Do đó, tìm hiểu nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc răng miệng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế các gói chăm sóc răng miệng phù hợp cho từng đối tƣợng nghề nghiệp cụ thể. Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Seyang Corporation Việt Nam là một trong những công ty tập trung vào việc sản xuất hàng may mặc với gần 600 cán bộ nhân viên làm việc ở khu công nghiệp. Việc triển khai nghiên cứu tìm hiểu tình trạng sâu răng, viêm lợi tại công ty và nhu cầu điều trị bệnh răng miệng của nhân viên công ty là điều cần thiết. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng có thể đƣợc sử dụng là giá trị tham khảo cho các công ty và khu sản xuất có cùng đặc điểm.
Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và nhu cầu sử dụng dich vụ chăm sóc răng miệng của công nhân Công Ty TNHH Seyang Corporation Việt Nam năm 2023”, với 2 mục tiêu nhƣ sau: 1. Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi của công nhân Công Ty TNHH một thành viên Seyang Corporation Việt Nam năm 2023. Mô tả nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc răng miệng của các đối tƣợng trên. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ BỆNH SÂU RĂNG, VIÊM LỢI 1. Đặc điểm bệnh sâu răng Sâu răng là quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trƣng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu. Sâu răng xảy ra khi hệ vi sinh vật thƣờng cƣ trú trong khoang miệng ở trạng thái cân bằng nội môi thay đổi thành quần thể sinh axit, axit uric và gây sâu răng do tiêu thụ đƣờng thƣờng xuyên [9]. Kết quả của sự dịch chuyển này có thể không nhìn thấy đƣợc trên lâm sàng, hoặc có thể nhìn thấy đƣợc do sự mất khoáng thực sự bên trong cấu trúc cứng của răng làm tổn thƣơng và gây sâu răng [10].
Do đó, sâu răng có thể đƣợc coi là một bệnh do vi khuẩn gây ra, hình thành thông qua ăn uống, đặc biệt ăn nhiều thức ăn với carbohydrate có thể lên men (glucose, fructose, maltose và sucrose) [11]. Ngoài ra, các yếu tố hành vi, tâm lý và xã hội cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình mắc bệnh [12]. Khả năng ngăn ngừa sâu răng của florua đã đƣợc chứng minh và việc tiếp xúc không đủ florua cũng đƣợc coi là yếu tố góp phần gây ra bệnh [13]. Trƣớc năm 1970, bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố.
Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là Streptococcus Mutans) lên men các chất bột và đƣờng còn dính lại răng tạo thành acid, acid này phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu [14]. Cơ chế này đƣợc thể hiện qua sơ đồ Keyes (Hình 1.1) 4 ĐƯỜNG RĂNG VI KHUẨN Hình 1. Cơ chế này đƣợc thể hiện qua sơ đồ White (Hình 1.2) Chất nền RĂNG Nước VI KHUẨN bọt pH và dòng chảy nước bọt Hình 1. 2 Sơ đồ White [15] Gần đây, ngƣời ta đƣa ra định nghĩa mới về bệnh sâu răng.
Theo đó, sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hóa đƣợc đặc trƣng bởi sự hủy 5 khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng. Tổn thƣơng là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trƣờng miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ. Cơ chế sinh bệnh học sâu răng đƣợc thể hiện bằng hai quá trình hủy khoáng và tái khoáng. Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu răng.
Có nhiều cách phân loại sâu răng: Phân loại theo vị trí của lỗ sâu trên răng của Black đƣợc chia thành 5 loại; phân loại theo diễn biến của sâu răng chia thành sâu răng cấp tính và sâu răng mãn tính. Cách phân loại thông thƣờng đƣợc nhiều ngƣời ứng dụng là phân loại theo mức độ tổn thƣơng. Sâu men (S1): Tổn thƣơng mới phần men chƣa có dấu hiệu lâm sàng r , theo Darling, khi thấy chấm trắng trên lâm sàng thì sâu răng đã tới đƣờng men ngà. Trên lâm sàng, chúng ta thƣờng khám và phát hiện sâu ngà, khi nhìn thấy lỗ sâu trên lâm sàng thì chắc chắn là sâu ngà.
Ngƣời ta chia sâu ngà làm 2 loại là sâu ngà nông (S2) và sâu ngà sâu (S3)[13-15]. Đặc điểm bệnh viêm lợi Viêm lợi là tình trạng viêm khu trú ở lợi, phổ biến nhất là do nhiễm vi khuẩn. Nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn ở mảng bám răng lợi thƣờng là các loại cầu khuẩn và trực khuẩn, vi khuẩn sợi, do virus, do sang chấn và các tác nhân lý học, do mọc răng, do sâu răng không đƣợc chữa. Trong số tất cả các bệnh nha chu, viêm lợi đƣợc coi là phổ biến nhất.
Có nhiều dạng viêm lợi khác nhau dựa trên biểu hiện lâm sàng, thời gian nhiễm trùng, mức độ nghiêm trọng và nguyên nhân. Tuy nhiên, dạng viêm lợi mãn tính do cặn bám răng gây ra đƣợc coi là biến thể thƣờng gặp nhất. Thành phần trong mảng bám chủ yếu là vi khuẩn chiếm đến 70% trọng lƣợng, 30% trọng lƣợng còn lại là chất tựa hữu cơ. Viêm lợi gây ra bởi vi khuẩn nằm trong hoặc gần rãnh lợi.
Các vi sinh vật liên quan chặt chẽ hơn với nguyên nhân của viêm lợi bao gồm các loài 6 Streptococcus, Fusobacterium, Actinomyces, Veillonella và Treponema. Bacteroides, Capnocytophaga và Eikenella cũng có khả năng liên quan đến căn nguyên của bệnh. Có thể có các yếu tố căn nguyên cục bộ hoặc toàn thân khác làm tăng cƣờng sự lắng đọng cặn bám răng hoặc tính dễ bị tổn thƣơng của mô trƣớc sự tấn công của vi sinh vật [16]. Hai ngày đầu chủ yếu là vi khuẩn Gram dƣơng, hai ngày tiếp theo là vi khuẩn hình sợi và hình thoi phát triển và ngày thứ tƣ đến ngày thứ chín có xoắn khuẩn.
Chiều dày mảng bám răng thay đổi từ 100 - 200 m. Các vi khuẩn xâm nhập vùng quanh răng gây viêm, phá hủy tổ chức, tác động của chúng có thể là trực tiếp do hoạt động của vi khuẩn sản sinh ra các men, nội độc tố, các sản phẩm đào thải. và cũng có thể là gián tiếp do vai trò kháng nguyên của chúng. Trên lâm sàng, viêm lợi đƣợc đặc trƣng bởi sƣng, đỏ, đau, bề mặt sáng bóng và chảy máu khi thăm dò nhẹ.
Viêm lợi hiếm khi gây chảy máu tự phát và thƣờng không đau nên nhiều bệnh nhân không nhận biết bệnh và không đi khám [17]. Viêm lợi nặng thƣờng đau và dễ chảy máu khi ăn, khi chải răng, mút chíp và chảy máu tự nhiên, ngƣời bệnh thƣờng ngại VSRM, đặc biệt là viêm lợi miệng Herpes. Ngoài nguyên nhân chính do vi khuẩn còn có các nguyên nhân khác nhƣ do yếu tố vật lý, cơ học, hóa học, sang chấn ở lợi. Có nhiều loại bệnh viêm lợi, nhƣng về mặt tiến triển, ngƣời ta chia làm 2 loại là viêm lợi cấp tính và viêm lợi mãn tính.
Viêm lợi cấp tính với các đặc điểm lợi phù nề, mạch máu xung huyết và tăng sinh làm bờ lợi phồng lên, đôi khi quá sản màu đỏ và bề mặt lợi căng, nh n, không thấy sần lấm tấm nhƣ vỏ cam, trƣơng lực giảm, mất độ săn chắc. Đau tại vùng viêm và đau lan, đau nhức. Chảy máu khi thăm khám, đôi khi chảy máu tự nhiên khi mút chíp. Viêm lợi mãn tính xảy ra khi viêm cấp không đƣợc điều trị triệt để, bệnh chuyển sang mãn tính.
Lợi phù nề ít, màu đỏ tƣơi ở đƣờng viền quanh răng hoặc tái nhạt, trƣơng lực kém, bờ lợi bong, có khi lợi phì đại. Có dịch rỉ viêm đặc hoặc mủ, 7 miệng hôi. Đau ít hoặc không. Thăm túi lợi có chảy máu và chảy máu khi mút chíp, không chảy máu tự nhiên [14, 15].
Ngoài ra, dựa vào nguyên nhân, viêm lợi có thể đƣợc phân thành các loại khác nhau: Viêm lợi do mảng bám: Đây là nguyên nhân phổ biến nhất của viêm lợi. Mảng bám là một màng mỏng hình thành trên bề mặt răng do vệ sinh răng miệng kém.