Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh đái tháo đường típ 2 tại Đà Lạt

Tài liệu nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh đái tháo đường típ 2 của người dân tại Đà Lạt, Lâm Đồng cùng các yếu tố liên quan.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình đái tháo đường típ 2 tại Đà Lạt

Đái tháo đường típ 2 là một trong những bệnh không lây nhiễm mạn tính gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng tại thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Theo các nghiên cứu gần đây, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở khu vực phường 6 đã tăng đáng kể. Tình trạng này liên quan mật thiết đến các yếu tố như lối sống hiện đại, chế độ ăn uống không lành mạnh, và thiếu hoạt động thể lực đều đặn. Đặc biệt, nhiều người dân chưa có đủ kiến thức về phòng chống bệnh đái tháo đường, dẫn đến việc phát hiện bệnh muộn và có biến chứng nặng.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm của bệnh đái tháo đường típ 2

Đái tháo đường típ 2 (T2DM) là bệnh rối loạn chuyển hóa đường, chiếm khoảng 90-95% các trường hợp đái tháo đường. Bệnh xảy ra khi cơ thể không sản xuất đủ insulin hoặc không sử dụng hiệu quả insulin. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm tuổi tác, chỉ số khối cơ thể (BMI) cao, tiền sử gia đình, và lối sống không lành mạnh. Bệnh thường phát triển âm thầm mà không có triệu chứng rõ ràng.

1.2. Tầm quan trọng của phòng chống tại Đà Lạt

Phòng chống bệnh đái tháo đường là ưu tiên hàng đầu trong công tác y tế công cộng tại Đà Lạt. Việc nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của cộng đồng về phòng bệnh đái tháo đường giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng. Các biện pháp phòng chống như kiểm tra đường huyết định kỳ, duy trì hoạt động thể lực, và điều chỉnh chế độ ăn uống là cực kỳ cần thiết.

II. Thực trạng kiến thức phòng chống bệnh đái tháo đường của người dân

Nghiên cứu tại phường 6, thành phố Đà Lạt cho thấy mức độ kiến thức về phòng bệnh đái tháo đường của người dân còn hạn chế. Nhiều người chưa hiểu rõ về nguy cơ mắc bệnh, triệu chứng, và biến chứng của đái tháo đường típ 2. Khoảng 60% người được khảo sát thiếu hiểu biết về cách phòng bệnh hiệu quả. Truyền thông và giáo dục sức khỏe chưa tiếp cận đủ tới cộng đồng, đặc biệt là những người có chỉ số BMI cao và tiền sử bệnh trong gia đình.

2.1. Mức độ nhận biết về nguy cơ và triệu chứng

Nhiều cư dân chưa nắm được nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường như ăn quá nhiều đồ ngọt, chế độ ăn không lành mạnh, và thiếu vận động. Nhận biết về triệu chứng như khát nước, tiểu nhiều, mệt mỏi vẫn còn thấp. Việc trang bị kiến thức chuẩn giúp người dân phát hiện bệnh sớm thông qua kiểm tra đường huyết định kỳ.

2.2. Vai trò của truyền thông y tế

Truyền thông về bệnh đái tháo đường thông qua các chương trình y tế công cộng, truyền hình, và mạng xã hội có tác động tích cực đến kiến thức phòng chống. Tuy nhiên, hiệu quả truyền thông tại Đà Lạt vẫn chưa tối ưu. Cần tăng cường các hoạt động giáo dục sức khỏe, đặc biệt là hướng dẫn về rèn luyện thể lựcsử dụng rau quả để phòng bệnh đái tháo đường hiệu quả.

III. Thái độ và thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường

Thái độ của người dân đối với phòng chống bệnh đái tháo đường có liên quan chặt chẽ đến thực hành phòng bệnh hàng ngày. Mặc dù một số người có thái độ tích cực, nhưng hành động thực tế vẫn chưa tuân thủ. Tỷ lệ người dân kiểm tra đường huyết định kỳ còn thấp, chỉ khoảng 25-30%. Nhiều người vẫn duy trì thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia, và sử dụng muối, đồ ngọt quá mức. Rèn luyện thể lực đều đặnăn rau quả hàng ngày là những thực hành chưa được chú trọng.

3.1. Thực hành dinh dưỡng và lối sống

Thói quen ăn uống của cộng đồng tại Đà Lạt cần được cải thiện để phòng bệnh đái tháo đường. Hiện tượng lạm dụng đồ chế biến sẵn, đồ ngọtmuối vẫn phổ biến. Việc tăng cường tiêu thụ rau quả và giảm lượng đường, muối trong khẩu phần ăn là biện pháp phòng chống quan trọng. Chỉ 40% người được khảo sát có thực hành sử dụng rau quả hằng ngày.

3.2. Hoạt động thể lực và kiểm tra sức khỏe

Rèn luyện thể lực đều đặn là chìa khóa phòng bệnh đái tháo đường nhưng chỉ 35% cộng đồng có thực hành tập luyện 3 ngày/tuần trở lên. Kiểm tra đường huyết định kỳ cho những người có nguy cơ cao còn rất hạn chế. Cần khuyến khích mọi người, đặc biệt những người chỉ số BMI cao và có tiền sử bệnh trong gia đình, thực hiện kiểm tra sức khỏe thường xuyên.

IV. Các yếu tố liên quan và khuyến nghị phòng chống

Các yếu tố tuổi tác, trình độ học vấn, chỉ số BMI, và tiền sử bệnh đái tháo đường của bản thân và gia đình đều có mối liên quan chặt chẽ đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường. Những người có BMI cao thường có kiến thức nhưng thực hành chưa đồng nhất. Mối tương quan giữa kiến thứcthái độ dương tính, giữa thái độthực hành cũng có ý nghĩa thống kê. Cần xây dựng chiến lược phòng bệnh đái tháo đường toàn diện, phù hợp với từng nhóm đối tượng.

4.1. Các yếu tố nguy cơ và nhân khẩu học

Tuổi tác, trình độ học vấn, tình trạng BMInghề nghiệp là các yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh đái tháo đường. Người trung niên, cao tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. Những người có chỉ số BMI cao cần được ưu tiên trong các chương trình phòng bệnh đái tháo đường. Có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm trình độ học vấn trong kiến thứcthực hành phòng bệnh.

4.2. Chiến lược và khuyến nghị phòng chống toàn diện

Cần phát triển chiến lược phòng chống bệnh đái tháo đường dựa trên cơ sở khoa học, tập trung vào giáo dục sức khỏe cộng đồng. Tăng cường truyền thông thông qua các kênh đa phương tiện, tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ miễn phí, và hỗ trợ thay đổi lối sống. Cần huy động sự tham gia của các tổ chức, cơ quan y tế, và cộng đồng trong phòng bệnh đái tháo đường tại Đà Lạt.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tổng quan về bệnh Đái tháo đường 1. Định nghĩa bệnh Đái tháo đường Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [3].

Dịch tễ học đái tháo đường Bệnh đái tháo đường là một trong bốn bệnh không lây nhiễm chính (NCD) và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Trên toàn cầu, tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành trên 18 tuổi đã tăng từ 4,7% năm 1980 lên 8,5% vào năm 2014, nghĩa là số người mắc bệnh đái tháo đường đã tăng từ 108 triệu lên tới 422 triệu người. Chỉ riêng ở khu vực Tây Thái Bình Dương, ước tính trong năm 2014 có 131 triệu người (tỷ lệ hiện mắc là 8.4%) sống chung với bệnh đái tháo đường [15]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người lớn (độ tuổi 20-79) tương đương 1 trong 11 người trưởng thành đang sống với bệnh đái tháo đường.

Dự đoán vào năm 2045, con số này sẽ tăng tới khoảng 700 triệu người, hay nói cách khác 1 người trong 10 người lớn sẽ có bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, gần một nửa số người đang sống với bệnh đái tháo đường (độ tuổi 20-79) không được chẩn đoán (46,5%), tỷ lệ này ở khu vực Tây Thái Bình Dương là 52,1%. Ước tính hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến đái tháo đường trong năm 2019. Bệnh đái tháo đường gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi [42], [30] 4 Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà Nội), 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (ở thành phố Huế), thì nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%.

Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%, rối loạn glucose huyết lúc đói 1,9% (toàn quốc năm 2003). Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỷ lệ ĐTĐ được chẩn đoán là 31,1%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán là 69,9%. Trong số những người được chẩn đoán, tỷ lệ ĐTĐ được quản lý tại cơ sở y tế: 28,9%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được quản lý: 71,1%. Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2019 Việt Nam có tỷ lệ 6% người trưởng thành mắc ĐTĐ [15], [47].

Phân loại đái tháo đường Đái tháo đường típ 1 Đái tháo đường típ 1 là do quá trình tự miễn dịch ở mà hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào beta sản xuất insulin của tuyến tụy. Kết quả là, cơ thể sản xuất rất ít hoặc không sản xuất insulin. nguyên nhân của quá trình phá hoại này không được hiểu đầy đủ nhưng một lời giải thích có khả năng là sự kết hợp của di truyền tính nhạy cảm (được trao bởi một số lượng lớn gen) và một kích hoạt môi trường như nhiễm virus, bắt đầu phản ứng tự miễn dịch. Tình trạng có thể phát triển ở mọi lứa tuổi, mặc dù bệnh đái tháo đường típ 1 xảy ra thường xuyên nhất ở trẻ em và thanh niên.

Đái tháo đường típ 1 là một trong các bệnh mãn tính phổ biến nhất trong thời thơ ấu. Bệnh này chỉ chiếm 5–10% những người mắc bệnh đái tháo đường Thư viện ĐH Thăng Long 5 Những người mắc bệnh đái tháo đường típ 1 cần insulin hàng ngày tiêm để giữ mức đường trong máu của họ trong một phạm vi thích hợp. Nếu không có insulin, họ sẽ không tồn tại. Tuy nhiên, với việc điều trị insulin hàng ngày, thường xuyên theo dõi đường huyết, giáo dục và hỗ trợ, họ có thể sống một cuộc sống khỏe mạnh và trì hoãn hoặc ngăn chặn nhiều các biến chứng liên quan đến bệnh đái tháo đường.

Người lớn tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm còn gọi là Latent Autoimmune Diabetes of Adulthood (LADA), lúc đầu BN còn đủ insulin nên không bị nhiễm toan ceton và có thể điều trị bằng thuốc viên nhưng tình trạng thiếu insulin sẽ năng dần với thời gian [68]. Đái tháo đường típ 2 Đái tháo đường típ 2 là bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Trong đái tháo đường típ 2, tăng đường huyết ban đầu là kết quả của các tế bào của cơ thể không có khả năng đáp ứng hoàn toàn với insulin, một tình trạng gọi là kháng insulin. Với sự khởi đầu của kháng insulin, hormone này kém hiệu quả hơn và, tất nhiên, thúc đẩy sự gia tăng sản xuất insulin.

Dạng bệnh đái tháo đường này phổ biến nhất chiếm 90–95% những người mắc bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới. Thể bệnh này bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống bệnh nhân ĐTĐ típ 2 không cần insulin để sống sót. Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ típ 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào.

Bệnh nhân không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số bệnh nhân có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài 6 hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ típ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện.

Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường [40]. Đái tháo đường thai kì Theo Tổ chức Y tế thê sgiowis và Liên đoàn quốc tế về Phụ khoa và Sản khoa tăng đường huyết ở phụ nữ mang thai có thể được phân loại là trước khi mang thai đái tháo đường, đái tháo đường thai kỳ hoặc đái tháo đường trong thai kỳ. Đái tháo đường thai kỳ có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong thời kỳ tiền sản và không được mong đợi dai dẳng sau sinh [51]. Các loại ĐTĐ khác - Thiếu hụt di truyền chức năng tế bào : ĐTĐ thể MODY.

- Bệnh tuyến tuỵ ngoại tiết: Viêm tuỵ mạn, xơ sỏi tuỵ, cắt tuỵ toàn bộ. - ĐTĐ thứ phát sau các bệnh nội tiết: bệnh to đầu chi, hội chứng Cushing, cường giáp, u tuỷ thượng thận, u tế bào tiết Glucagon. - ĐTĐ do thuốc hoặc hoá chất, một số thuốc có thể là nguyên nhân gây ĐTĐ như: glucocorticoid, hormon tuyến giáp. - Nhiễm virus: một số trường hợp nhiễm virus là nguyên nhân gây ĐTĐ như: nhiễm virus sởi, quai bị, cytomegalovirus.

- Một số hội chứng di truyền kết hợp với bệnh ĐTĐ hay gặp là: hội chứng Down, hội chứng Klinefelter, hội chứng Turner [34]. Yếu tố nguy cơ của đái tháo đường Các yếu tố di truyền Yếu tố di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong bệnh ĐTĐ. Những đối tượng có mối quan hệ huyết thống với người bị bệnh ĐTĐ như có bố, mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ cao gấp 4-6 lần người bình thường (trong gia đình không có ai mắc bệnh ĐTĐ). Nhất là những đối tượng mà cả bên nội và Thư viện ĐH Thăng Long 7 ngoại đều có người mắc bệnh ĐTĐ.

Khi cha hoặc mẹ bị bệnh ĐTĐ thì nguy cơ bị bệnh ĐTĐ của con là 30%, khi cả hai cha mẹ đều bị bệnh thì nguy cơ này tăng tới 50% [32]. Tuổi Tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc, ở Tây Âu tuổi mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên 30 tuổi, ở người da trắng thường trên 50 tuổi. Yếu tố tuổi (đặc biệt là độ tuổi từ 50 trở lên) được xếp lên vị trí đầu tiên trong số các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ típ 2. Ở châu Á, bệnh ĐTĐ típ 2 có tỷ lệ cao ở những người trên 30 tuổi, ở châu Âu bệnh thường xảy ra sau tuổi 50.

Từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ lên tới 16% [56]. Giới tính Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ và ĐTĐ ở 2 giới nam và nữ thay đổi tùy thuộc vào các vùng dân cư khác nhau. Ở Bắc Mỹ và Tây Âu tỷ lệ nữ/nam thường là 1/4. Ngay trong quần thể NC tỷ lệ nữ/nam còn tùy thuộc vào tuổi, điều kiện sống, ở đô thị Thái Bình Dương tỷ lệ nữ/nam là 3/1 trong khi ở Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ tỷ lệ mắc ĐTĐ tương đương nhau ở cả hai giới [31].

Chủng tộc Tỷ lệ mắc bệnh và tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc, ở Tây Âu tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở người da vàng cao hơn người da trắng từ 2- 4 lần, tuổi mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên 30 tuổi, ở người da trắng thường trên 50 tuổi [45]. Béo phì Theo các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới yếu tố nguy cơ mạnh mẽ nhất tác động lên khả năng mắc bệnh là béo phì. Tỷ lệ béo phì trong cộng đồng dân cư và tỷ lệ mắc ĐTĐ luôn song hành. Béo phì là một trong những nguy cơ có thể phòng tránh được của bệnh ĐTĐ [64].

8 Béo bụng Béo bụng còn được gọi là béo phì dạng nam là một thuật ngữ chỉ những người mà phân bố mỡ ở bụng, nội tạng và phần trên cơ thể chiếm tỷ trọng đáng kể. Béo bụng ngay cả với những người cân nặng không thực sự xếp vào loại béo phì hoặc béo phì vừa phải (BMI< 25). Đây là yếu tố nguy cơ có liên quan đến xơ vữa động mạch. Là nguyên nhân chính của nhồi máu cơ tim [64].

Các biến chứng của đái tháo đường ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ