Chương I: Lý luận về kỹ năng sống trong gia đình của học sinh THPT 1.1 Lich sử nghiên cứu vẫn dé 1. Những nghiên cứu về kỹ năng sống nói chung 1. O nước ngoài Thuật ngữ "Kỹ năng song” hiện ngày cảng phô bien va được sử dụng kha rộng rãi. Trên thé giới, KNS lả thuật ngữ đã được xuất hiện tử sớm, cùng với nó là những nghiên cửu, những chương trình giáo dục được triển khai tại nhiều quốc gia và khu vực lãnh thé.
Đi cùng với sự phát triển của xã hội, KNS cũng được mo rộng va tiếp cận đến từng đối tượng, lĩnh vực cụ thé thông qua các tô chức, hiệp hội lớn trên thể giới và của từng quốc gia. Vào những năm 60 cua thé ky XX, thuật ngữ KNS được những nha tâm lý học thực hành đưa ra va coi đó như một khả nang xã hội ral quan trong trong việc phat triển cá nhân. Đến năm 1979, Gilbert Botvin (tiến sĩ người Mi - nha khoa học hanh vi vả giáo sư tâm than học) đã công bố một chương trình đảo tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiểu niên từ lớp 7 đến lớp 9. Thông qua các module tương tác, chương trình đã tạo cơ hội cho người học tiếp cận với những kỹ năng xã hội như: quyết đoán.
tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết van dé dé thẻ hiện sự tử chói sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá. Hiệu qua của chương trình này mang lại là giúp cho thanh thiểu niên ngăn ngừa việc hút thuốc, tăng thêm các gia trị trong mỗi quan hệ giữa giảo viên va học sinh, kết quả học lận va sự quan tam của nhà trưởng. các chương trình KNS đã được đưa vào chương trình tiêu học va trung học ở các nước phát triển từ khả sớm. nham thucday lỗi sông lành mạnh ở trẻ em, tạo nén tang vững chắc cho các em khi bước vào tuôi trưởng thành.
[30,24] [rong những giai đoạn tiếp theo của lịch sư. các tô chức lớn trên thẻ giới như UNICEF. UNFPA, WHO đã triển khai các nghiên cứu về KNS song song với các chương trình ứng dụng KNS tại một số quốc gia. Năm 1996, tại Mỹ Latinh, một hội thảo về KNS đã được tổ chức tại Costa Rica nhằm day mạnh việc giáo dục sức khoẻ thông qua giáo dục KNS trong các trường học vả coi đó như những ưu tiên của mạng lưới y tế tại Mỹ Latinh.
Trong thời gian trên. tại vùng biên Caribe, Liên hợp quốc phối hợp với Dai học Tay Án, Bộ Giáo dục và Y tế đã điêu hành dự án CARICOM (Caribean Community) nhằm đưa các chương trình KNS vào các bac học: mẫu giao, tiểu học va trung học trên toàn vùng Carhe thông qua cách tiếp cận giao dục sức khoẻ vả cuộc sống gia đình. [30] Nam 1997, tỏ chức Y tế thé giới (WTO) thực hiện dự an “Life skills education for children and adolescents in schools” với mục dich hướng đến việc phan loại nội dung các KNS. xảy dựng chương trình giảng day KNS va dao tao cho các giáo viên đứng lớp.
Đôi tượng của chương trình hưởng tới lả trẻ em vả thanh thiểu niên. Các KNS cơ bản được tổ chức này để cập do là: KN giải quyết van để, KN ra quyết định, KN tư duy sang tao, KN tư duy tích cực, KN giao tiếp hiệu quả, KN thiết lập mỗi quan hệ. KN tự nhận thức bản thân, KN quản lý cảm xúc vả quan lý stress. Tại Châu A, việc tiếp cân với khái niệm KNS đã được lông phép vào các chương trinh gido đục phát triển cộng đồng.
Năm 1997, KNS được đưa vào chương trình giáo dục phòng tránh HIV/AIDS tại Lao. Đổi tượng là học sinh hệ giao dục chính quy, không chỉnh quy va sinh viên các trường su phạm. nội dung KNS được mở rộng ra các lĩnh vực khác như: giáo dục dan số, giao dục sức khoẻ sinh sản. giao duc sức khoẻ và vệ sinh các nhắn.
giao dục môi trườme.55] Năm 1998, Myanmar với dự án "Chương trình giáo dục sống khoẻ mạnh và phòng chông HIV/AIDS đựa vào trường học”. Dự án này là sự phối hợp giữa chính phủ Myanmar vả tổ chức UNICEF. Với mục dich đưa KNS vào trong giao dục để thúc day lỗi sông lành mạnh và ngăn ngừa lay nhiễm HIV, Năm 2001, ở Campuchia, nghiên cửu KNS được phát triển bởi một nhóm liên ngành của Bộ giáo dục. thanh niên va thể thao (MoEYS), là một phan của kế hoạch quốc gia "Giáo dục cho moi người”, Nghiễn cửu nay được thực hiện ở cả chính khoa và ngoại khoá trong hai cấp học: tiêu học va trung học.
Hiện nay, Campuchia dang nỗ lực phát triển va mở rộng chương trình KNS tập trung vào trẻ em thiệt thỏi, thanh thiểu niên tại các trung tâm đảo tạo nghề ở nông thôn, vũng sầu, vùng xa. Thang 12/2003, tại Bali - Indonesia đã dién ra hội thảo vé pido dục KNS trong giao dục không chính quy với su tham gia của 15 nước. Bao cáo các nước cho thay; có nhiều điểm chung nhưng cũng có những điểm riêng trong quan niệm về KNS của các nước. Trong chương trình không chính quy, những KN như nghe, nói, đọc, viết được coi như là KNS cở sở và KN kiểm sống cũng được chủ trọng.
Nhin chung, trên thé giới và khu vực Châu A nói riêng, KNS được đưa vào giao dục thông qua các chương trình lớn của mỗi quốc gia. Các van dé mang tính xã hội như; HIV/AIDS, sức khoẻ sinh sản vả cá nhân, bao vệ mỗi trường. được giáo dục và rèn luyện bằng các KNS cơ bản đáp ứng việc giải quyết các van dé trên. Nhưng việc đưa KNS vao chương trình giáo dục chi mới dừng ở việc năm bat nhu câu của xã hội về các vẫn để cấp bách, chưa có những nghiên cứu cụ thé về các van dé khác trong mỗi trường học đường.
O trong nước Thuật ngữ KNS dau tiên bat dau xuất hiện tir chương trình cua UNICEF (1996): "Giáo dục kỹ năng sống dé bao vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiêu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình nay chi bao gôm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định gia trị, KN ra quyết định,.nhằm vào các chủ dé giáo dục sức khoẻ do các chuyên gia Uc tập huần. Bên cạnh đó, thông qua các bộ luật, nhà nước đã thé hiện cân nhân mạnh đến việc rên luyện KNS. Với luật Giáo dục sửa đổi va bổ sung năm 2009, can “phải huy tinh tích cực, tự giác, chú động, tư duy sáng tạo của HS.
bồi dưỡng phương pháp tu học, kha năng lam việc theo nhóm, rên luyện KN van dụng kiến thức vảo thực tiễn”. Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em sửa đối nam 2004 có quy định những bổn phận phản ánh KN thiện cảm của trẻ em đối với người than trong gia đình, ban bẻ, những người có hoàn cảnh đặc biét.[ 15] Các chương trinh, dự án nghiên cửu KNS ở các lứa tuỗổi được sự quan tam tử các ban ngành chức năng trong nước như: Bộ Y tế, Bộ Giáo dục va Dao tạo. Uy ban Dan số và Gia đình trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hỗ Chi Minh,. trong giai đoạn từ những năm 90 của thé ki XX den năm 2005.
Toản bộ các chương trình có nội dungtrong tam là các nhóm KN như nghe-nói-đọc-viết. KN về sức khoẻ sinh sản, KN giao tiếp vả vay von, KN chăm súc ban thân va phòng chỗng HIV/AIDS.với mục đích giải quyết có hiệu quả với các van dé của xã hội. [15] Nội dung KNS được tiếp cận và bước đâu triển khai trong hệ thông giáo dục không chính quy ở nước ta cach day hơn mười năm. Đến nay đã đưa ra một số tải liệu, để tải nghiên cứu vẽ KNS và giáo dục KNS cho các đổi tượng: HS THPT.
học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học viên ở các trung tâm học tap cộng dong. Hiện nay, KNS ở nước ta đang hướng đến việc đưa nội dung sau tịch hợp trong các mon học hang chương trình tap huan cho GV a nha trương pho thang. nội dung KNS được lang ghép vào các van dé mang tinh thách thức, nguy cơ va rủi ro trong xã hội hiện nay. Dap ứng nhu câu giải quyết các khó khăn cả nhân và phát triển cộng đông, xã hội.
Qua đó, cho thay KNS tại Việt Nam đã được chú trọng va tiếp tục hoản thiện cả về nội dung, phương pháp, mục tiểu giao dục cho các lửa tuổi.2 Những nghiên cứu về kỹ năng sống & học sinh THPT 1.1 Nước ngoài Những nghiên cứu vẻ KNS dành cho HS THPT được hình thành dựa trên các chương trình chung cua các cap hoc. Nội dung cơ ban có lông ghép KNS thuộc các lĩnh vực y te, van hoá, dan số,. Tuy theo mỗi quốc gia. nội dung giáo dục co nhiều su khác nhau Ở Thai Lan (1996), Indonesia (1997), Lao (1998), các nội dung chu yêu tập trung vào các vẫn dé lớn của xã hội như: phòng chẳng HIV/AIDS, sức khoẻ sinh sản, giới.
KNS còn được thiết kế trong việc tích hợp dé piảng dạy trong các môn học. Nhân thay răng, doi tượng HS THPT chưa thực sự là đổi tượng có nhiêu hưởng nghiên cứu chuyên biệt về KNS. KNS trên the giới được tap trung nghiên cứu ở lứa tuỏi mam non, tiêu học. trẻ vị thành niên là chủ yếu.2 Trong nước Nên giáo dục Việt Nam tir xưa đã chủ trong rat lon vào việc dạy chữ va day người.
D6 là nhiệm vụ quan trọng dé hình thành va phat trién con người về các mat nhận thức. tinh cam và một nhân cách vững vane. Xã hội ngày nay dem lại nhiều thách thức lớn dé con người không chỉ tiếp thu trí thức một cách thuản tuý. trái lai, ren luyện KN cũng là một điều kiện cần cho mọi thành phan lửa tuổi, đặc biệt là với HS THPT.
Nam 2003, Uy ban Quốc gia Dan số va Kế hoạch hoá gia đỉnh đã triển khai dự án “Tang cường sức khoẻ sinh sản”, đã biên soạn 4 tập tải liệu “Sức khoẻ sinh sản vả sức khoẻ tình dục thanh thiểu niên” dành cho giảng viên đi tận huắn thanh thiểu niên (2002). Trong năm học 2003-2004, Việt Nam triển khai đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông qua việc đổi mới mục tiêu và phương pháp giáo dục. Từ đây KNS được tiếp cận khi nội dung giao dục chủ trọng đến việc rèn luyện nang lực hành động, nang lực thích ứng, năng lực giao tiếp trong giai đoạn công nghiệp hoá — hiện đại hoá dat nước.