phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận bố cục thành 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Khái quát chung về hoạt động kiểm tra sau thông quan Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thƣơng mại tại thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa thƣơng mại xuất nhập khẩu tại thành phố Hải Phòng Em xin gửi lời cảm ơn tới ThS. Đinh Khƣơng Duy, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn em trong quá trình thực hiện và lãnh đạo Cục Hải quan Hải Phòng, lãnh đạo Chi cục Kiểm tra sau thông quan đã tạo điều kiện hỗ trợ em trong quá trình nghiên cứu thu thập tài liệu để hoàn thiện khóa luận. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1.1 Khái niệm và đặc điểm kiểm tra sau thông quan 1.1 Khái niệm kiểm tra sau thông quan Từ những năm 60 của thế kỷ 20, Hội đồng hợp tác Hải quan, nay là Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đã bắt đầu nghiên cứu các biện pháp quản lý hải quan tiên tiến và hiệu quả hơn, trong đó có biện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan. Cơ sở kiểm tra của biện pháp này là các chứng từ khai hải quan, sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác đƣợc lƣu trữ tại cơ quan hải quan cũng nhƣ tại doanh nghiệp và các bên liên quan khác về lƣợng hàng hóa đã đƣợc thông quan.
Hoạt động này vì vậy còn đƣợc gọi bằng một thuật ngữ chuyên môn là “kiểm tra sau thông quan” (Post Clearance Audit – PCA) và ở một số nƣớc khác trên thế giới đƣợc gọi là “kiểm toán hải quan” hay “kiểm tra hải quan trên cơ sở kiểm toán”. Trên thế giới thì KTSTQ đƣợc biết đến với thuật ngữ Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán (Audit-based control). Khái niệm kiểm tra trên cơ sở kiểm toán đƣợc Tổ chức Hải quan thế giới đƣa ra và đƣợc áp dụng rộng rãi ở các nƣớc trên thế giới, khái niệm này đƣợc nêu trong công ƣớc Kyoto sửa đổi năm 1999 nhƣ sau: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán” là các biện pháp do cơ quan hải quan tiến hành để kiểm tra sự chuẩn xác và trung thực của các tờ khai thông qua việc kiểm tra các sổ sách, hệ thống kinh doanh hay các số liệu thƣơng mại có liên quan do bên hữu quan đang quản lý. “Kiểm tra sau thông quan” là một vấn đề còn khá mới mẻ trong lĩnh vực nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan, song ngay sau khi đƣợc hình thành đã 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc coi là một mắt xích quan trọng trong quy trình các hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm bắt buộc chủ thể kê khai hải quan tuân thủ các qui định của pháp luật.
Nghiệp vụ KTSTQ đƣợc hình thành và hoàn thiện dần cùng với việc hình thành và hoàn thiện khoa học về quản lý rủi ro trong hoạt động của các cơ quan hải quan trên thế giới trong những năm gần đây. Công ƣớc về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan (Công ƣớc Kyoto) ngày 18/5/1973 có hiệu lực từ ngày 25/9/1974 đã tạo lập cơ sở cho những qui định bƣớc đầu về KTSTQ. Nhƣng cũng phải đến những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20, cùng với quá trình nghiên cứu áp dụng các biện pháp quản lý mới tại một số nƣớc thì hoạt động của nghiệp vụ này mới đƣợc WCO đƣa vào chƣơng trình hoạt động và tháng 9/1999, đặc biệt sau khi Công ƣớc Kyoto đƣợc sửa đổi bổ sung thì KTSTQ mới chính thức đƣợc nêu ra. Từ đó, WCO đã khuyến nghị các nƣớc thành viên nhanh chóng hoàn chỉnh và tiến tới áp dụng rộng rãi hệ thống kiểm tra hàng hóa sau khi thông quan nhằm tạo thuận lợi nhất cho hoạt động thƣơng mại, đồng thời nhấn mạnh rằng KTSTQ là một bộ phận thuộc hệ thống tổng thể bao gồm các biện pháp kiểm tra khác nhau nhƣ kiểm tra hải quan trƣớc thông quan, kiểm tra hải quan trong quá trình thông quan hàng hóa nhập khẩu và KTSTQ.
Trên cơ sở đó, WCO thống nhất quan niệm về KTSTQ là “quy trình công tác cho phép viên chức hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thƣơng mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác cho cơ quan hải quan mà hiện tại đang đƣợc các đối tƣợng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ”. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan niệm về KTSTQ nói trên cũng đƣợc cụ thể hoá trong Công ƣớc Kyoto sửa đổi và đƣợc bổ sung (tháng 9/1999): “KTSTQ hay kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp đƣợc cơ quan hải quan tiến hành nhằm thỏa mãn các mục đích trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống định mức kinh tế và dữ liệu thƣơng mại của các bên liên quan”. Tổ chức Hải quan ASEAN cho rằng: “KTSTQ là một biện pháp kiểm tra hải quan có hệ thống mà cơ quan hải quan tự thoả mãn về độ chính xác và xác thực của khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ hệ thống kinh doanh có liên quan và dữ liệu thƣơng mại của các cá nhân và các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động thƣơng mại quốc tế”. Ở Việt Nam, khái niệm KTSTQ cũng thống nhất với Công ƣớc Kyoto và đƣợc nêu trong Luật Hải quan Việt Nam 2005.
Theo đó, “KTSTQ đƣợc hiểu là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng, ngƣời đƣợc chủ hàng uỷ quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã đƣợc thông quan; thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”. Luật Hải Quan Việt Nam 2014 bổ sung thêm: “ KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa, kiểm tra thực tế hàng hóa trong trƣờng hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan.” Ngoài ra, các quan niệm trên cũng hoàn toàn thống nhất với nhau về chủ thể, khách thể, đối tƣợng và mục đích của hoạt động kiểm tra sau thông quan 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bao gồm: Ngƣời kiểm tra là cơ quan hải quan và việc kiểm tra đƣợc thực hiện sau khi hàng hoá đã đƣợc thông quan. Đối tƣợng đƣợc kiểm tra là những ngƣời trực tiếp, gián tiếp tham gia vào hoạt động thƣơng mại quốc tế cụ thể là xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá; vì vậy, kiểm tra sau thông quan cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan hải quan với các cá nhân, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và với các cơ quan, tổ chức có liên quan. Cơ sở để kiểm tra là hồ sơ hải quan, sổ sách, chứng từ kế toán, hệ thống kinh doanh, kể cả đƣợc lƣu giữ dƣới dạng dữ liệu điện tử.
Mục đích kiểm tra là để phát hiện các sai sót, vi phạm chƣa đƣợc phát hiện, đặc biệt là các sai sót, vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về thuế và đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của từng bên liên quan. Khóa luận sẽ dựa trên khái niệm về kiểm tra sau thông quan theo Luật Hải quan Việt Nam.2 Đặc điểm kiểm tra sau thông quan Đặc điểm KTSTQ là những nét đặc trƣng cơ bản của KTSTQ. Trong quá trình hình thành và phát triển, KTSTQ có các đặc điểm cơ bản sau: KTSTQ là một trong những nghiệp vụ kiểm tra của cơ quan hải quan. Luật Hải quan và các văn bản pháp quy của các cơ quan Nhà Nƣớc có thẩm quyền đã đƣa ra các quy định cần thiết để thực hiện KTSTQ, trong đó bao gồm cả thẩm quyền của cán bộ công chức hải quan, quá trình thực hiện KTSTQ cũng nhƣ các chế tài đƣợc áp dụng trong KTSTQ.
Một điểm quan trọng khác trong khía cạnh này là KTSTQ không phải là biện pháp điều tra vi phạm Hải quan ngay cả khi Luật Hải quan cho phép các cán bộ Hải quan vào các cơ sở của cá 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân, công ty để kiểm tra hồ sơ của họ và tiến hành xử phạt những ai chống đối hoặc ngăn cản công tác kiểm tra.Thông qua quy trình KTSTQ, công chức Hải quan tiếp cận, hợp tác với các doanh nghiệp đang đƣợc kiểm tra (ngƣời đƣợc kiểm tra) và tiến hành KTSTQ với sự hợp tác của doanh nghiệp. KTSTQ chia sẻ trách nhiệm quản lý Hải quan có hệ thống với các đơn vị chức năng khác của Hải quan (đơn vị thông quan, đơn vị điều tra vi phạm Hải quan và các đơn vị khác). KTSTQ không phải là một hệ thống độc lập mà là một công cụ của tổ chức Hải quan. Kiểm tra sau thông quan đóng vai trò của mình nhƣ đã đƣợc chỉ rõ đồng thời gắn bó chặt chẽ với các chức năng liên quan khác, trong phạm vi chiến lƣợc tổng thể bao trùm toàn bộ ngành Hải quan.
KTSTQ là phương pháp kiểm tra ngược thời gian, diễn ra sau khi giải phóng hàng. KTSTQ có hiệu quả đáng kể nếu nó đƣợc thực hiện đối với những cá nhân, công ty tiến hành khai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trƣớc hồ sơ lƣu trữ của họ. Mặt khác, phƣơng pháp này sẽ không có hiệu quả mấy nếu nó đƣợc áp dụng cho những đối tƣợng tiến hành nhập khẩu, xuất khẩu số lƣợng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phải nộp thấp và phƣơng pháp này khó áp dụng cho những đối tƣợng biến mất sau giải phóng hàng. KTSTQ được tiến hành để xác định xem các tờ khai có tuân thủ các yêu cầu của pháp luật Hải quan và các quy định khác có liên quan hay không.
Đây là đối tƣợng của KTSTQ, khía cạnh này đòi hỏi các cán bộ Hải quan đã tinh thông về nghiệp vụ Hải quan phải có khả năng tiến hành KTSTQ.