Luận án tiến sĩ thực trạng kháng kháng sinh nhóm betalactam phổ rộng của vi khuẩn đường ruột ở người khỏe mạnh tại một xã tỉnh hà nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng kháng kháng sinh nhóm betalactam phổ rộng của vi khuẩn đường ruột ở người khỏe mạnh tại Hà Nam.

Trường đại học

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2021

187
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Kháng kháng sinh và vấn đề y tế công cộng

2.1.1. Khái niệm về kháng kháng sinh

2.1.2. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu của mục tiêu 1 và mục tiêu 2

3.3. Đối tượng nghiên cứu của mục tiêu 3

3.4. Địa điểm nghiên cứu

3.5. Thời gian nghiên cứu

3.6. Phương pháp nghiên cứu

3.6.1. Thiết kế nghiên cứu

3.6.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

3.6.3. Cách chọn mẫu nghiên cứu

3.6.4. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

3.6.4.1. Phương pháp thu thập thông tin
3.6.4.2. Phương pháp thu thập mẫu xét nghiệm

3.6.5. Các tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu

3.6.6. Các công cụ thu thập thông tin

3.6.7. Các kỹ thuật xét nghiệm

3.6.8. Các nhóm chỉ số nghiên cứu chính

3.6.8.1. Các chỉ số của mục tiêu 1
3.6.8.2. Các chỉ số của mục tiêu 2
3.6.8.3. Các chỉ số nghiên cứu của mục tiêu 3

3.6.9. Quản lý và phân tích số liệu

3.6.10. Sai số và cách khống chế sai số

3.6.10.1. Các sai số gặp phải
3.6.10.2. Cách khống chế các sai số

3.6.11. Đạo đức trong nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng người khỏe mạnh mang VKĐR KKS nhóm β-lactam phổ rộng tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, 2015

4.2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng người khỏe mạnh mang VKĐR KKS nhóm β-lactam phổ rộng tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, 2015

4.3. Mối liên quan của một số yếu tố và tình trạng người khỏe mạnh tại cộng đồng mang VKĐR KKS nhóm β-lactam phổ rộng

4.4. Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng người khoẻ mạnh tại cộng đồng mang VKĐR KKS cephalosprin thế hệ 3

4.5. Một số đặc điểm sinh học phân tử của VKĐR KKS nhóm β-lactam phổ rộng phân lập được tại điểm nghiên cứu

4.6. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng kháng kháng sinh betalactam ở vi khuẩn đường ruột người khỏe mạnh tại Hà Nam

Thực trạng kháng kháng sinh betalactam đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong y tế công cộng, đặc biệt là ở vi khuẩn đường ruột của người khỏe mạnh tại Hà Nam. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô tả tình trạng kháng kháng sinh của nhóm betalactam phổ rộng, bao gồm các kháng sinh như cephalosporin thế hệ III. Kết quả cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh ở vi khuẩn đường ruột đang gia tăng đáng kể, đặc biệt là ở các chủng vi khuẩn sinh enzyme ESBLs (Extended Spectrum Beta-Lactamases). Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc điều trị các bệnh nhiễm trùng thông thường.

1.1. Tỷ lệ kháng kháng sinh betalactam

Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ kháng kháng sinh betalactamvi khuẩn đường ruột tại Hà Nam đạt mức cao, với hơn 40% các chủng vi khuẩn kháng lại cephalosporin thế hệ III. Điều này phản ánh sự lạm dụng kháng sinh trong cộng đồng và thiếu kiểm soát trong sử dụng kháng sinh ở nông nghiệp và chăn nuôi. Các chủng vi khuẩn như Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae là những tác nhân chính gây ra tình trạng này.

1.2. Yếu tố liên quan đến kháng kháng sinh

Các yếu tố như thói quen sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định, tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, và việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đã góp phần làm gia tăng tình trạng kháng kháng sinh betalactam. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng kháng sinh thường xuyên và tỷ lệ kháng kháng sinh cao ở người khỏe mạnh.

II. Đặc điểm sinh học phân tử của vi khuẩn kháng kháng sinh betalactam

Nghiên cứu đã phân tích đặc điểm sinh học phân tử của các chủng vi khuẩn đường ruột kháng betalactam tại Hà Nam. Kết quả cho thấy sự hiện diện của các gen mã hóa enzyme ESBLs như TEM, CTX-M, OXA, và SHV. Các gen này có khả năng phân hủy kháng sinh nhóm betalactam, làm giảm hiệu quả điều trị. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc giám sát và kiểm soát sự lan truyền của các gen kháng kháng sinh trong cộng đồng.

2.1. Gen mã hóa enzyme ESBLs

Các gen mã hóa enzyme ESBLs như CTX-M và TEM được phát hiện phổ biến trong các chủng vi khuẩn đường ruột kháng betalactam. Những gen này có khả năng truyền qua plasmid, làm gia tăng nguy cơ lan truyền kháng kháng sinh giữa các chủng vi khuẩn khác nhau. Điều này đòi hỏi các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn trong việc sử dụng kháng sinh.

2.2. Phân tích kiểu gen

Phân tích kiểu gen cho thấy sự đa dạng trong các chủng vi khuẩn đường ruột kháng betalactam. Các chủng vi khuẩn có kiểu gen tương đồng cao được phát hiện ở nhiều hộ gia đình khác nhau, cho thấy sự lan truyền của vi khuẩn kháng kháng sinh trong cộng đồng là đáng kể.

III. Chiến lược phòng chống kháng kháng sinh betalactam

Để đối phó với tình trạng kháng kháng sinh betalactam, nghiên cứu đề xuất các chiến lược phòng chống hiệu quả. Bao gồm việc tăng cường giám sát sử dụng kháng sinh, nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng kháng sinh hợp lý, và thực hiện các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện và cộng đồng. Đồng thời, cần có các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kháng kháng sinh để phát triển các loại kháng sinh mới.

3.1. Giám sát sử dụng kháng sinh

Việc giám sát chặt chẽ sử dụng kháng sinh trong cộng đồng và bệnh viện là yếu tố then chốt để giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh betalactam. Cần xây dựng hệ thống giám sát liên tục và có chính sách quản lý kháng sinh hiệu quả.

3.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của việc sử dụng kháng sinh không đúng cách là một phần quan trọng trong chiến lược phòng chống kháng kháng sinh. Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được triển khai rộng rãi để thay đổi thói quen sử dụng kháng sinh trong cộng đồng.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Kháng kháng sinh là một vấn đề y tế công cộng rất nghiêm trọng gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người và động vật trong thế kỷ 21. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cảnh báo vấn đề kháng kháng sinh đang đe dọa lớn tới khả năng điều trị các bệnh nhiễm trùng phổ biến trong cộng đồng và bệnh viện, làm thất bại điều trị, gia tăng thời gian nằm viện và đe dọa tính mạng người bệnh. Kháng kháng sinh được dự đoán sẽ là nguyên nhân của khoảng 10 triệu trường hợp tử vong hàng năm vào năm 2050 và gây thiệt hại trên 100 nghìn tỷ USD trên toàn thế giới [132]. Tình trạng kháng sinh của các vi sinh vật không chỉ là vấn đề cấp bách ở trong các bệnh viện mà cả ở trong cộng đồng do việc sử dụng kháng sinh không dúng chỉ định trên người, không kiểm soát tốt việc sử dụng kháng sinh trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản v.

dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh gia tăng không ngừng và ngày càng nghiêm trọng hơn [162]. Họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae là một họ rất lớn có tầm quan trọng bậc nhất trong y học bởi có nhiều loài có khả năng gây bệnh ở người. Vi khuẩn này là tác nhân phổ biến của các bệnh nhiễm trùng hay gặp trên lâm sàng như nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết v. Vi khuẩn sinh sống và tồn tại ở người, động vật, thực vật và ngoài môi trường, trong đó thường gặp nhất là ở trong ruột của người khỏe mạnh và các loài động vật.

Tuy nhiên, nhóm vi khuẩn này lại có khả năng kháng với kháng sinh rất mạnh, đặc biệt là với nhóm kháng sinh β-lactam phổ rộng do chúng có khả năng sinh enzyme phân huỷ kháng sinh phổ rộng (Extended spectrum beta-lactamases – ESBLs)[170]. Kháng sinh nhóm β- lactam phổ rộng trong đó có cephalosporin là một họ kháng sinh được sử dụng rộng rãi nhất từ xưa đến nay, chiếm hơn một nửa 2 các loại kháng sinh được sử dụng trong điều trị cả ở người và vật nuôi. Hiện tại, ngoài kháng sinh “thuộc nhóm lựa chọn cuối cùng” như carbanemen và colistin thì các kháng sinh phổ rộng cephalosporin thế hệ III như cefotaxim, ceftriaxon… vẫn được coi là nhóm kháng sinh quan trọng hàng đầu để điều trị các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, việc gia tăng các chủng vi khuẩn đường ruột sinh enzyme ESBLs kháng kháng sinh nhóm β- lactam ghi nhận cả trong bệnh viện và ở cộng đồng đã đặt ra khó khăn rất lớn cho công tác phòng chống và điều trị các bệnh nhiễm trùng trên toàn thế giới [162][119][136][169].

Ở Việt Nam, nhiều báo cáo cho thấy tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh tại các bệnh viện đã ở mức độ cao. Trong báo cáo gần đây tại một số bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy các vi khuẩn đường ruột là căn nguyên thường gặp gây nhiễm khuẩn bệnh viện và cũng đã kháng lại cephalosporin thế hệ III với tỷ lệ gia tăng từ 25% năm 2000-2001 lên đến 42% vào năm 2009 [18]. Đặc biệt kháng sinh chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu thuốc sử dụng, trong đó các kháng sinh nhóm β- lactam luôn nằm trong danh mục thuốc bảo hiểm được sử dụng thường xuyên tại các bệnh viện, chính điều này dẫn đến nguy cơ cao cho các vi khuẩn kháng kháng sinh nói chung trong đó có các kháng sinh phổ rộng cephalosporin thế hệ III. Hơn nữa, thói quen sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định tại cộng đồng của người dân cũng như cán bộ y tế cơ sở mà phần nhiều vẫn là nhóm β- lactam dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh với nhóm kháng sinh này tại cộng đồng ngày càng tăng cao [6][5][59][58].

Tại Việt Nam hệ thống giám sát kháng kháng sinh tại cộng đồng chưa được thiết lập hoặc có nhưng không mang tính liên tục; các kế hoạch, các hoạt động và một số nghiên cứu gần đây về kháng kháng sinh mới chỉ tập trung nhiều tại các cơ sở điều trị còn tại cộng đồng thì chưa có nhiều nghiên cứu 3 đầy đủ, toàn diện đặc biệt về tình trạng kháng kháng sinh nhóm β- lactam phổ rộng của một số vi khuẩn đường ruột trên người khỏe mạnh. Việc có những hiểu biết cơ bản và chuyên sâu về vấn đề này bao gồm : dịch tễ học, các yếu tố liên quan, đặc điểm về vi sinh và sinh học phân tử của vi khuẩn đường ruột kháng kháng sinh nhóm β- lactam phổ rộng trong đó có cephalosporin thế hệ III là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Những số liệu khoa học này sẽ giúp cho các nhà chuyên môn, các nhà quản lý cũng như các nhà hoạch định chính sách y tế trong việc định hướng sử dụng kháng sinh, phối hợp kháng sinh và nhất là đưa ra các giải pháp phòng chống vi khuẩn kháng kháng sinh nhóm β-lactam phổ rộng trong bệnh viện và cộng đồng tại Việt Nam. Chính vì sự cần thiết và ý nghĩa thực tiễn đã nêu ở trên chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng kháng kháng sinh nhóm Betalactam phổ rộng của vi khuẩn đường ruột ở người khỏe mạnh tại một xã, tỉnh Hà Nam” được thực hiện với ba mục tiêu cụ thể sau: 1.

Mô tả thực trạng người khỏe mạnh mang vi khuẩn đường ruột kháng kháng kháng sinh nhóm β- lactam phổ rộng tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, 2015. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng người khỏe mạnh mang vi khuẩn đường ruột kháng kháng kháng sinh nhóm β- lactam phổ rộng tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, 2015. Xác định một số đặc điểm sinh học phân tử của vi khuẩn đường ruột kháng kháng kháng sinh nhóm β- lactam phổ rộng phân lập được tại điểm nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Kháng kháng sinh và vấn đề y tế công cộng 1. Khái niệm về kháng kháng sinh Kháng kháng sinh (KKS) là tình trạng các vi sinh vật kháng lại các kháng sinh (KS) đã từng nhạy cảm trước đây, dẫn đến việc điều trị đặc hiệu sẽ trở nên không hiệu quả, nhiễm khuẩn kéo dài (thậm chí gây tử vong) và có thể lây lan cho người khác. KKS là hậu quả tất yếu của quá trình sử dụng KS trong điều trị và đặc biệt gia tăng khi việc lạm dụng KS ngày càng phổ biến hơn [86]. Tác dụng của KS là ức chế sự phát triển của vi khuẩn (VK), nhưng nếu trong môi trường KS ở nồng độ thường dùng mà VK vẫn phát triển được gọi là đề kháng [24] hay VK KKS: - Đề kháng giả: là hiện tượng có biểu hiện đề kháng nhưng bản chất không phải do di truyền[24].

- Đề kháng thật: được chia thành hai loại: Kháng tự nhiên( VK đã có tính KKS từ trước khi tiếp xúc với KS [122] và kháng mắc phải hoặc còn gọi là đề kháng thu được: Các đề này liên quan đến sự thay đổi nhiễm sắc thể của VK hoặc do được truyền các gen KKS nằm trên các plasmid và class I intergron cho VK cùng và khác loài thông qua hình thức biến nạp và tiếp hợp. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn - Làm thay đổi đích tác động: VK thay đổi đích tác động của KS do đó KS không còn vị trí để tác động [124]. - Tạo ra các enzym: enzym được tạo ra làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc phân tử của KS. Ví dụ VK sinh men ESBL có khả năng ức chế hoặc phân hủy các KS mạnh như cephalosporin và carbapenem được phát hiện[61][71].

- Làm giảm tính thấm của màng nguyên sinh chất: VK làm giảm mức độ thấm của KS qua thành tế bào VK [61]. 5 - Tạo ra các isoenzym: VK thay đổi con đường chuyển hóa làm cho KS không thể can thiệp vào quá trình chuyển hóa của VK[24]. Tóm tắt cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn [1][3][29][104] Cơ chế KKS Kháng sinh ví dụ Cơ sở di truyền Đại diện Giảm tính P. aeruginosa Penicillin Nhiễm sắc thể thấm Enterobater S.

aureus Plasmid và nhiễm Penicillin Enterobater sắc thể Neisseria gonorhoea Bất hoạt KS Plasmid và nhiễm S. aureus Chloraphenicol sắc thể Enterobater Staphylococcus Aminoglycosid Plasmid aureus Staphylococcus Erthromycin aureus Thay đổi đích Rifamycin Nhiễm sắc thể Enterobater tác động streptomycin Staphylococcus Norfloxacin aureus Thay đổi hóa Staphylococcus học trao đổi Sulfonamid Nhiễm sắc thể aureus chất Enterobater Enterobater Tetracyclin Staphylococcus Bơm thuốc ra Chloraphenicol Plasmid và nhiễm aureus khỏi tế bào Erythromycin sắc thể Bacillus subtilis Staphylococcus pp. Tác động của kháng kháng sinh tới sức khỏe cộng đồng Thuốc KS có lợi ích rất to lớn trong điều trị và dự phòng cho người và trong nông nghiệp khi được kê đơn và điều trị đúng. Tuy nhiên, những loại KS này đã được sử dụng rộng rãi, lạm dụng làm cho VK thích nghi với KS, và VK KKS.

Tình trạng KKS không chỉ là mối lo ngại của các bác sỹ trong điều trị mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội đối với sức khỏe cộng đồng như: gánh nặng bệnh tật và các thiệt hại về kinh tế, xã hội. - Tác động đến chi phí điều trị bệnh và gánh nặng bệnh tật: Theo báo cáo của WHO năm 2014, KKS đã làm gia tăng các chi phí điều trị cho bệnh nhân và 6 các cơ sở y tế [87]. Các chi phí điều trị các bệnh nhiễm trùng do VK KKS đều lớn hơn rất nhiều so với các chi phí điều trị các bệnh nhiễm trùng do các VK gây bệnh còn nhạy cảm với KS. Một số nghiên cứu tại Anh cho thấy chi phí bổ sung cho điều trị nhiễm trùng tiết niệu do nhiễm VK E.

coli KKS tại Anh là khoảng 3,62 bảng Anh, chi phí nằm viện điều trị nhiễm trùng do nhiễm E.coli KKS ở Thái Lan tăng trung bình khoảng 528 đô la Mỹ, tại Mỹ chi phí điều trị trung bình cho các bệnh nhân nhiễm VK gram âm KKS khoảng 38.121 đô la Mỹ cao hơn so với các bệnh nhiễm trùng khác là 106,239- 144,414 đô la Mỹ [87]. Ở Việt Nam, nghiên cứu năm 2008-2009 tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương về sử dụng KS thông qua liều xác định hàng ngày trên 100 giường-ngày cho thấy bảy KS có mức tiêu thụ cao nhất tăng gần gấp đôi trong năm 2009 so với số liệu năm 2008. Các KS thế hệ cũ như chloramphenicol và cephalosprin thế hệ 1 hoặc 2, ít được sử dụng trong điều trị [7]. Nghiên cứu năm 2008 về sử dụng KS tại các bệnh viện ở Việt Nam cho thấy mỗi năm chi phí cho dùng KS tại mỗi bệnh viện là 1,93 triệu đô la Mỹ trong khi thu nhập bình quân đầu người mỗi năm là 1.024 đô la Mỹ đây là gánh nặng cho nền kinh tế [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng kháng kháng sinh betalactam ở vi khuẩn đường ruột người khỏe mạnh tại Hà Nam là một nghiên cứu quan trọng, tập trung vào vấn đề kháng kháng sinh đang gia tăng trong cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích sự hiện diện và mức độ kháng betalactam ở vi khuẩn đường ruột của người khỏe mạnh tại Hà Nam, từ đó đưa ra cảnh báo về nguy cơ lây lan gen kháng thuốc và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và những người quan tâm đến sức khỏe cộng đồng, giúp hiểu rõ hơn về tình trạng kháng kháng sinh và đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe và môi trường liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em tại Lào Cai, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em vùng cao. Ngoài ra, Luận văn thực trạng tự kỳ thị ở bệnh nhân HIV tại Hà Nội cung cấp góc nhìn sâu sắc về các vấn đề tâm lý xã hội liên quan đến bệnh truyền nhiễm. Cuối cùng, Luận văn đánh giá kim loại nặng trong đất trồng rau tại Hà Nội giúp hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe cộng đồng và môi trường.