CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VÀ NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN CHO VAY TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Lý luận chung về Quỹ Tín Dụng Nhân Dân 1. Quá trình hình thành và phát triển của Quỹ Tín Dụng Nhân Dân Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình phát triển đất nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Và trong quá trình này, nhu cầu về một nguồn vốn để đáp ứng cho công cuộc ấy là hết sức quan trọng.
Vì vậy, từ những năm đầu 90 của thế kỷ trước, Chính phủ đã thiết lập một mô hình tài chính vĩ mô là tổ chức tín dụng hợp tác mới, thích hợp với tình hình kinh tế thị trường ở nông thôn đó là mô hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã, đặc trưng cho mô hình đó là Quỹ tín dụng nhân dân. Lý luận về Quỹ Tín Dụng Nhân dân 1. Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân là tên gọi của một loại hình hợp tác xã tín dụng kiểu mới ở Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ. Mô hình Quỹ TDND được thiết kế trên cơ sở học tập kinh nghiệm của hệ thống Quỹ Nhân dân Desjardin, Québec (Canađa).
Ở Việt Nam căn cứ theo quy định của nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2001 và nghị định của Chính Phủ Việt Nam số 69/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 48/2001/NĐ- CP của Chính Phủ Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Quỹ Tín Dụng Nhân Dân, Quỹ Tín Dụng Nhân Dân được định nghĩa như sau: “Quỹ Tín Dụng Nhân Dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt dộng sản xuất, kinh 5 SVTH: Nguyễn Thị Phúc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân là phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển”. Đặc điểm Quỹ tín dụng nhân dân bao gồm những đặc điểm sau: Quỹ TDND được xây dựng tại địa bàn các xã, phường, liên xã, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện, là một tổ chức không chỉ về kinh tế mà còn là tổ chức xã hội gồm những người trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ làng xóm gần gũi,…Mỗi một Quỹ TDND là một đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi trực tiếp giao dịch với khách hàng và thành viên.
Quỹ TDND cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Điều đó được hiểu rằng, Quỹ TDND là phương tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực huy động, cho vay và cung ứng các dịch vụ Ngân hàng khác. Quỹ TDND để thực hiện được mục tiêu trên phải tạo ra được các dịch vụ tín dụng, ngân hàng, đáp ứng đươc các dịch vụ này cho các thành viên và đảm bảo được hoạt động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, Quỹ TDND cơ sở cần định hướng thực hiện đồng thời ba mục tiêu là: hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, an toàn và phải sinh lời.
Cùng với đó, việc quản lý và điều hành hoạt động của Quỹ TDND phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, các thành viên được tham gia quản lý, dân chủ bàn bạc, đóng góp ý kiến để xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển và các quyết định cụ thể phù hợp với thực tế của đơn vị mình. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân có những vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội. Vai trò của Quỹ TDND thể hiện ở chỗ: Quỹ TDND là tổ chức tín dụng hợp tác, là tổ chức kinh tế đóng vai trò trung gian giữa những người tiết kiệm và người đầu tư trong phạm vi hoạt động, tạo ra môi 6 SVTH: Nguyễn Thị Phúc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang trường và điều kiện thuận lợi cho thành viên và khách hàng gửi và vay vốn, cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng và thuận tiện giúp cho thành viên có vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và đời sống.
Quỹ TDND là đầu mối tập trung những nguồn vốn tản mạn, tiềm ẩn trong dân cư, nhất là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, những người buôn bán nhỏ lẻ, để tạo ra quỹ tiền tệ tập trung qua đó cung cấp cho thành viên có nhu cầu về vốn, hỗ trợ cho hệ thống Quỹ TDND đảm bảo khả năng chi trả và thanh toán kịp thời cũng như giữ chữ tín với khách hàng. Sự phát triển từng ngày của Quỹ TDND cũng góp phần hạn chế và đẩy lùi tệ nạn cho vay nặng lãi, nhất là ở vùng nông thôn, những vùng xa xôi hẻo lánh mà các TCTD khác không thể vươn tới được. Mô hình tổ chức Hệ thống Quỹ TDND Việt Nam đã hoạt động theo mô hình tổ chức theo ba cấp dựa trên quyết định của Thủ tướng chính phủ. Cụ thể, mô hình tổ chức của hệ thống Quỹ TDND như sau Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Quỹ tín dụng nhân dân khu vực Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Sơ đồ 1.1 - Mô hình tổ chức hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (1) Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương: 7 SVTH: Nguyễn Thị Phúc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Thu Trang Đây là một tổ chức tín dụng cổ phần hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, vốn điều lệ của Quỹ TDND Trung ương do các thành viên là Quỹ TDND cơ sở góp (trước đây là Quỹ tín dụng nhân dân khu vực), các doanh nghiệp nhà nước, các Ngân hàng thương mại quốc doanh và Nhà nước. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là đầu mối, tương trợ và cung ứng nguồn vốn cho các Quỹ TDND cơ sở hoạt động. (2) Quỹ tín dụng nhân dân khu vực: Quỹ tín dụng nhân dân khu vực được hình thành theo địa bàn tỉnh, thành phố hoặc theo vùng kinh tế. Thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân khu vực là các Quỹ TDND cơ sở trong địa bàn.
Quỹ TDND khu vực cũng là một đơn vị kinh tế, hạch toán độc lập. Là nơi điều hòa nguồn vốn giữa Quỹ TDND Trung ương và Quỹ TDND cơ sở. Tuy nhiên, hiện nay Quỹ TDND khu vực đã được chuyển thành chi nhánh Quỹ TDND trực thuộc Quỹ TDND Trung ương. (3) Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là một pháp nhân hạch toán độc lập, được xây dựng trên địa bàn thị xã, phường, thị trấn, liên xã, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện.
Là nơi trực tiếp giao dịch với thành viên và khách hàng. Thành viên tự nguyện góp vốn và gia nhập Quỹ TDND cơ sở. Khi Quỹ TDND cơ sở góp đủ vốn cổ phần theo quy định sẽ được trở thành thành viên của Quỹ TDND khu vực. Như vậy, Quỹ TDND cơ sở sẽ được hưởng mọi quyền lợi và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Quỹ TDND khu vực.
Mục tiêu hoạt động Thông thường, mọi doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp công ích) thường lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động. Song, mặc dù Quỹ tín dụng nhân dân cũng là một loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên Quỹ TDND lại không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Điều này được lý giải bởi căn nguyên của việc hình thành Quỹ tín dụng nhân dân. Cụ thể: “Quỹ tín dụng nhân dân ra đời vì mục tiêu tương trợ giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng.
Mặc dù vậy, Quỹ TDND vẫn phải đảm bảo hoạt động có 8 SVTH: Nguyễn Thị Phúc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang lãi để trả cổ tức cho các thành viên và quan trọng hơn nữa là để bảo tồn, phát triển nguồn vốn hoạt động”. Quỹ TDND hoạt động chủ yếu nhằm hỗ trợ các thành viên nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải thiện điều kiện sống. Điều đó cũng có nghĩa là các Quỹ TDND tìm cách nâng cao lợi nhuận không nhằm mục đích chia cổ tức cao hơn cho các thành viên, mà nhằm mục đích phục vụ thành viên tốt hơn, cung cấp cho thành viên những dịch vụ tiện ích hơn và với giá cả hợp lý hơn.
Sở dĩ có thể nói mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng là hết sức quan trọng đối với sự sống còn của Quỹ TDND là vì nếu xa rời mục tiêu đó, Quỹ tín dụng nhân dân sẽ theo đuổi mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, dẫn đến một trong những tình trạng sau: Thứ nhất, để đạt được mục tiêu lợi nhuận cao nhất, Quỹ TDND sẽ mạo hiểm hơn trong các khoản đầu tư, do đó sẽ bỏ qua các nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng và các quy định bảo đảm an toàn trong hoạt động dẫn đến những rủi ro có thể khiến Quỹ TDND đổ vỡ, phá sản. Thứ hai, khi Quỹ TDND chạy theo lợi nhuận, điều này buộc Quỹ TDND phải dần xa rời đối tượng phục vụ của mình là các thành viên trong Quỹ TDND. Bởi vì đó là những đối tượng khách hàng nhỏ lẻ, chi phí cho vay lớn, hiệu quả thấp. Thứ ba, một khi đã xa rời mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng thì Quỹ TDND sẽ không còn phát huy được những ưu thế của loại hình tổ chức tín dụng hợp tác nên khó có thể cạnh tranh được với các loại hình tổ chức tín dụng khác để có thể tồn tại.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động Căn cứ vào điều 5 Nghị định của Chính phủ số 69/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ, nguyên tắc tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cụ thể như sau: Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện: 9 SVTH: Nguyễn Thị Phúc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.