Chương 1: Khung nghiên cứu cho vay phát triển sản xuất của các Quỹ tín dụng nhân dân Chương 2: Thực trạng cho vay phát triển sản xuất tại các QTDND trên địa bàn tỉnh Hải Dương Chương 3: Giải pháp tăng cường cho vay phát triển sản xuất của các QTDND trên địa bàn tỉnh Hải Dương CHƢƠNG 1 KHUNG NGHIÊN CỨU CHO VAY PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Khái quát về mô hình Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân là tên gọi của loại hình Hợp tác xã (HTX) tín dụng kiểu mới ở Việt Nam. Mô hình QTDND được thiết kế trên cơ sở học tập kinh nghiệm của hệ thống QTDND Desjardins, Québec (Canada).
Theo quyết định số 05/2006/QĐ-NHNN về “hướng dẫn xây dựng Điều lệ mẫu Quỹ tín dụng nhân dân” thì “Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện các mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển”. Còn theo luật TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 thì: “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. Chức năng, nhiệm vụ của Quỹ tín dụng nhân dân Một là, QTDND có nhiệm vụ phục vụ lợi ích kinh tế cho các thành viên, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế địa phương.
Các QTDND là một tổ chức kinh tế của người dân thuần túy chứ không phải là một tổ chức chính trị, xã hội nên hoạt động của nó là phục vụ lợi ích kinh tế cho thành viên của Quỹ. QTDND là kênh dẫn vốn, huy động vốn quan trọng tạo huyết mạch cho nền kinh tế, đặc biệt là các vùng kinh tế còn nhiều khó khăn, những nơi có nhiều người còn chịu thiệt thòi, thua thiệt trong cuộc cạnh tranh phát triển kinh tế. Đặc biệt thông qua hoạt động cho vay tín dụng của QTDND có nhiệm vụ làm đòn bẩy cho nền kinh tế phát triển. Hai là, chức năng khai thác, lấp đầy khoảng trống thị trường.
QTDND được hình thành ở địa bàn nơi mà thị trường vốn còn bị bỏ ngỏ, khoảng trống, chưa được khai thác, chính vì vậy QTDND còn có chức năng khai thác, lấp đầy khoảng trống thị trường. Đó là nơi mà người dân có nhu cầu vay vốn nhưng khó có khả năng do không đáp ứng được yêu cầu vay vốn cũng có thể do quy mô món vay quá nhỏ bé mà ngân hàng không muốn đáp ứng, họ thường phải tìm đến với tín dụng phi chính thức để đáp ứng nhu cầu. Ba là, chức năng phát huy nội lực. Hoạt động của QTDND chủ yếu là do các thành viên tự tham gia góp sức, góp vốn xây dựng.
Họ sử dụng các dịch vụ mà quỹ đem lại như gửi tiền, vay vốn. Nguồn vốn cho vay chủ yếu dựa vào số tiền huy động được từ trong thành viên hay dân cư trên địa bàn hoạt động. Chính nhờ chức năng phát huy nội lực này mà QTDND có thể phát triển được ở ngay cả những nơi mà điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất còn khó khăn, những nơi mà chưa thể có được sự trợ giúp từ Nhà nước hay bên ngoài. Bốn là, chức năng thúc đẩy kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân phát triển.
QTDND là một tổ chức kinh tế hợp tác của các thành viên, thuộc sở hữu của các thành viên nên khi nó ra đời và hoạt động sẽ bổ sung thêm vào đội ngũ kinh tế hợp tác, thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển. Ngoài ra các dịch vụ mà nó cung cấp lại giúp cho các cá nhân, hộ gia đình phát triển sản xuất, kinh doanh nên nó cũng gián tiếp góp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Quá trình xây dựng, phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam 1. Giai đoạn thí điểm thành lập (1993-2000) Sau sự sụp đổ của các HTX tín dụng nông nghiệp đầu những năm 90, các NHTM không thể lấp chỗ trống trong khu vực tài chính nông thôn và cần có một hệ thống tài chính nông thôn để bù đắp vào chỗ trống này.
Vì vậy, từ “Hợp tác xã” đã được đưa ra khỏi tên của tổ chức tài chính mới thiết lập này và gọi là QTDND. Đây thực chất là các “hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm cộng đồng” theo mô hình Caisse Populaire ở Québec, Canada. Việc thí điểm thành lập QTDND được triển khai bắt đầu từ cuối năm 1993, kết thúc cuối năm 2000 theo “Đề án thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân”. Năm 1996, luật HTX được bạn hành là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho tổ chức của mô hình HTX nói chung và mô hình QTDND nói riêng.
Năm 1997, Luật các tổ chức tín dụng ra đời thay thế cho pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực tài chính tín dụng trong đó có cả hoạt động của các QTDND. Theo đó, các QTDND được coi là một loại hình TCTD hợp tác, chính thức trở thành một TCTD hoạt động với tư cách pháp nhân là HTX. Tổng kết giai đoạn thí điểm, hệ thống QTDND lúc này hoạt động có 3 cấp: 1 QTDND trung ương; 21 QTDND khu vực; và khoảng gần 900 QTDND cấp cơ sở. Tuy nhiên do giai đoạn đầu, quản lý nhà nước còn nỏng lẻo, nên nhiều QTDND hoạt động bị cầm chừng và có nguy cơ dẫn đến đổ vỡ do chưa tuân thủ mục tiêu và nguyên tắc hoạt động.
Giai đoạn củng cố, chấn chỉnh hoạt động (01/2001 – 6/2004) Trong những năm từ 2000 – 2004, NHNN đã tập trung chỉ đạo hệ thống QTDND thực hiện công tác củng cố, chấn chỉnh để chất lượng hoạt động được nâng cao và hệ thống được bảo đảm an toàn, tạo điều cho hoàn thiện hệ thống và phát triển bền vững trong những giai đoạn tiếp theo. Tháng 10/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW về “củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân”. Tổng kết sau hơn 3 năm thực hiện chỉ thị hệ thống QTDND đã cơ bản khắc phục được một số tồn tại, yếu kém; hoạt động của các QTDND dần đi vào ổn định, chất lượng hoạt động được cải thiện rõ rệt. Số lượng QTDND hoạt động tốt tăng lên nhiều, từ 61,35% số lượng QTDND Hoạt động bình thường, 38,65% số QTDND hoạt động yếu kém đến chỗ 97,65% số QTDND hoạt động bình thương, chỉ 2,35% số QTDND hoạt động yếu kém, không có QTDND nào có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán.
Song song với việc đạt được một số mục tiêu trong việc củng cố, chấn chỉnh hoạt động, Thống đốc NHNN cũng đã phê duyệt “đề án mở rộng mạng lưới hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trung ương” với việc sáp nhập 21 QTDND khu vực thành chi nhánh QTDND trung ương, hệ thống lúc này chỉ còn hai cấp. Giai đoạn hoàn thiện và phát triển (từ tháng 7/2005 đến nay) Bên cạnh các đơn vị trực tiếp kinh doanh là QTDND và QTDND trung ương thì giai đoạn này hệ thống hoàn thiện hơn một bước với việc thành lập đơn vị hỗ trợ liên kết phát triển - Hiệp hội các QTDND Việt Nam – Đánh dấu sự hoàn thiện và phát triển hơn nữa hệ thống QTDND. Hiệp hội là tổ chức phi chính phủ do thành viên là các QTDND thành lập để đứng ra đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của chính họ. Việc thành lập Hiệp hội các QTDND khẳng định sự liên kết chặt chẽ giữa các QTDND và sự phát triển vững bền của hệ thống QTDND.
Tháng 7/2013, QTDND trung ương chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, ngày càng nâng cao vai trò đầu mối của các QTDND, vừa cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các QTDND, vừa là đầu mối giám sát, bảo đảm an toàn cho cả hệ thống. Có thế khẳng định hệ thống QTDND có khoảng thời gian hình thành và phát triển tương đối lâu dài và gắn bó với hoạt động kinh doanh sản xuất của bà con nôn thôn, điều đó đã tạo nên sự gắn bó và gần gũi giữa QTDND và bà con nông thôn. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của QTDND 1. Thành viên của quỹ tín dụng nhân dân “Thành viên quỹ tín dụng nhân dân là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư này và tán thành Điều lệ, tự nguyện tham gia góp vốn thành lập quỹ tín dụng nhân dân” (Thông tư 04/2015 - thông tư NHNN).
Thành viên của QTDND có quyền được tham dự Đại hội thành viên, được ứng cử, bầu cử vào các chức danh được bầu tại QTDND như ban kiểm soát, hội đồng quản trị. Đối với các QTDND, việc trở thành thành viên hoặc chấm dứt tư cách thành viên khá dễ dàng. Là thành viên đối với QTDND, các cá nhân, hộ gia đình và các pháp nhân sẽ đóng một khoản phí, hàng năm được nhận lãi cổ phần, tuy nhiên sau khi ra khỏi QTDND, các cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân vẫn được nhận lại khoản phí đóng góp mà thành viên đã nộp. Thông thường, quy định tại các QTDND thì cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân khi tham gia vay vốn tại QTDND thì bắt buộc phải là thành viên của QTDND, còn sau khi không còn dư nợ vay tại QTDND thì thành viên có thể giữ nguyên phần vốn góp cổ phần hoặc rút về.
Cơ cấu tổ chức quản lý của Quỹ tín dụng nhân dân Cơ cấu tổ chức quản lý của QTDND bao gồm Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc, cụ thể: + Đại hội thành viên: “Đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân” (Điều 80, Luật các TCTD năm 2010). Các thành viên được thực thi quyền lợi của họ thông qua đại hội thành viên.