Phân tích kê đơn thuốc bạch cầu mạn dòng tủy tại BV Truyền máu Huyết học TPHCM

Nghiên cứu phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú điều trị bạch cầu mạn dòng tủy tại BV Truyền máu Huyết học TPHCM năm 2023 và các chỉ số liên quan.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Dược Sĩ Chuyên Khoa Cấp I

2024

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bệnh Bạch Cầu Mạn Dòng Tủy

Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy (CML - Chronic Myeloid Leukemia) là một bệnh ung thư máu nguy hiểm, đặc trưng bởi sự tăng sinh bất thường của các tế bào tủy xương. Bệnh này ảnh hưởng đến khả năng sản xuất các tế bào máu bình thường, dẫn đến những biến chứng nặng nề nếu không được điều trị kịp thời. Theo số liệu từ Bệnh viện Truyền máu - Huyết học thành phố Hồ Chí Minh, bệnh này yêu cầu một phương pháp kê đơn thuốc chặt chẽ và tuân thủ các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế. Việc phân tích thực trạng kê đơn thuốc năm 2023 cho thấy tầm quan trọng của việc chuẩn hóa quy trình điều trị. Sự hiểu biết sâu sắc về bệnh lý và các thuốc điều trị giúp nâng cao hiệu quả điều trị ngoại trú.

1.1. Đặc điểm bệnh sinh và lâm sàng

Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy xuất hiện khi có đột biến gen BCR-ABL gây ra sự tăng sinh không kiểm soát của các tế bào tủy. Bệnh biểu hiện qua các triệu chứng như mệt mỏi, sốt, giảm cân và splenomegaly. Chẩn đoán thường được xác định thông qua xét nghiệm máu và sinh thiết tủy xương. Điều trị ngoại trú đòi hỏi sử dụng các thuốc ức chế kinase và các thuốc hỗ trợ để kiểm soát bệnh tiến triển.

1.2. Tầm quan trọng của điều trị đúng quy cách

Việc kê đơn thuốc đúng cách theo hướng dẫn của Bộ Y tế là yếu tố quyết định thành công của điều trị. Phân tích thực trạng năm 2023 tại các cơ sở y tế giúp phát hiện những sai sót trong quá trình kê đơn và chỉ định thuốc. Tuân thủ các quy định về tên generic thuốc, kiểm soát tương tác thuốc, và lựa chọn các thuốc nằm trong danh mục bảo hiểm y tế là những yêu cầu thiết yếu để đảm bảo chất lượng điều trị.

II. Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Năm 2023

Nghiên cứu thực trạng kê đơn thuốc ngoài trú điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học TP.HCM năm 2023 đã phân tích các chỉ số kê đơn quan trọng. Kết quả cho thấy số lượng thuốc trung bình trong một đơn, tỷ lệ sử dụng tên generic và tên chung quốc tế, cũng như tỷ lệ sử dụng kháng sinh và thuốc tiêm. Nghiên cứu cũng đánh giá tỷ lệ đơn có vitamin và khoáng chất, mức độ tuân thủ danh mục chi trả bảo hiểm y tế, và nguồn gốc xuất xứ thuốc. Những dữ liệu này là cơ sở để cải thiện chất lượng kê đơnhiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

2.1. Chỉ số kê đơn chính

Các chỉ số kê đơn thuốc được phân tích bao gồm: số thuốc kê trung bình (Average Number of Drugs - AIM), tỷ lệ thuốc tên generic, tỷ lệ đơn có kháng sinh, và tỷ lệ đơn có thuốc tiêm. Nghiên cứu tập trung vào độ tuân thủ với danh mục bảo hiểm y tế và phân loại nguồn gốc thuốc (nhập khẩu, sản xuất trong nước). Những chỉ số này giúp đánh giá hợp lý hóa kê đơn thuốc tại bệnh viện.

2.2. Tình hình chỉ định thuốc điều trị

Phân tích chỉ định thuốc nền tảng như ức chế kinase dành cho bệnh bạch cầu mạn dòng tủy theo hướng dẫn Bộ Y tế cho thấy mức độ tuân thủ của các bác sĩ. Thuốc dùng kèm được đánh giá về tính hợp lý và tương tác thuốc có thể gây hại. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng về thực hành kê đơn hiện tại và những cải tiến cần thiết.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu và Thiết Kế

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu từ các đơn thuốc ngoài trú của bệnh nhân bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học TP.HCM trong năm 2023. Mẫu nghiên cứu bao gồm các đơn thuốc được kê đơn bởi các bác sĩ chuyên khoa, được phân tích theo các tiêu chí kê đơn chuẩn hóa. Dữ liệu được xử lý thống kê để tính toán các chỉ số kê đơn, so sánh với các hướng dẫn điều trị quốc tế và quy định của Bộ Y tế. Phương pháp này cho phép đánh giá toàn diện thực trạng và xác định những điểm cần cải thiện trong quản lý dượckê đơn thuốc.

3.1. Cỡ mẫu và quá trình thu thập dữ liệu

Cỡ mẫu được xác định dựa trên số lượng đơn thuốc ngoài trú trong năm 2023. Quy trình thu thập dữ liệu bao gồm trích xuất thông tin từ hồ sơ bệnh nhân, sơ đồ kê đơn, và hệ thống quản lý dược. Các biến số được ghi nhận bao gồm tên thuốc, liều dùng, đường dùng, số lượng, và nguồn gốc. Dữ liệu được kiểm chứng kỹ lưỡng trước khi phân tích để đảm bảo độ chính xáctính nhất quán.

3.2. Tiêu chí đánh giá và phân tích

Tiêu chí đánh giá bao gồm tuân thủ hướng dẫn điều trị Bộ Y tế, sử dụng tên generic thuốc, kiểm soát tương tác thuốc, và tỷ lệ tuân thủ danh mục bảo hiểm. Phân tích thống kê sử dụng các phương pháp mô tả để tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, và độ lệch chuẩn. Kết quả được biểu diễn dưới dạng bảng, biểu đồ để dễ dàng so sánh và rút ra kết luận.

IV. Kết Luận và Kiến Nghị Cải Thiện

Nghiên cứu phân tích thực trạng kê đơn thuốc năm 2023 cung cấp những insight quý báu về thực hành kê đơn trong điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại các cơ sở y tế. Kết quả cho thấy những điểm mạnh cũng như những tồn tại cần khắc phục trong quản lý dượcchỉ định thuốc. Dựa trên những phát hiện này, các kiến nghị cải thiện được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kê đơn, tăng cường tuân thủ hướng dẫn, và đảm bảo an toàn dùng thuốc cho bệnh nhân. Những kiến nghị này hướng tới việc hợp lý hóa kê đơn, giảm chi phí y tế, và cải thiện kết quả điều trị cho những bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu mạn dòng tủy.

4.1. Những kết luận chính từ nghiên cứu

Kết luận chính từ nghiên cứu bao gồm mức độ tuân thủ hướng dẫn điều trị, hiệu quả sử dụng thuốc nền tảng, và tần suất tương tác thuốc trong các đơn kê. Phân tích cho thấy tỷ lệ sử dụng tên generic thuốc, số lượng thuốc hỗ trợ kèm theo, và tỷ lệ chi trả bảo hiểm. Những kết luận này cung cấp cơ sở để đánh giá chất lượng kê đơn tại bệnh viện.

4.2. Các kiến nghị để cải thiện thực hành kê đơn

Kiến nghị bao gồm: tăng cường đào tạo cho các bác sĩ về hướng dẫn điều trị chuẩn hóa, ứng dụng công nghệ thông tin để kiểm soát tương tác thuốc, và quản lý danh mục thuốc được bảo hiểm. Cần thực hiện kiểm toán dược định kỳ, xây dựng quy trình kê đơn, và nâng cao nhận thức của nhân viên y tế về hợp lý hóa dùng thuốc.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy, hay còn gọi là bệnh Lơ xê mi tủy mạn (Chronic myeloid leukemia - CML) là bệnh thuộc hội chứng tăng sinh tuỷ mạn ác tính, đặc trưng bởi sự tăng sinh các tế bào dòng bạch cầu hạt có biệt hóa trưởng thành, hậu quả là số lượng bạch cầu tăng cao ở máu ngoại vi với đủ các tuổi của dòng bạch cầu hạt. Bệnh thường diễn biến qua ba giai đoạn, gồm giai đoạn mạn tính, giai đoạn tăng tốc và giai đoạn chuyển bạch cầu cấp. Trước đây, giai đoạn mạn tính của bệnh thường chỉ kéo dài 3 - 5 năm, rồi chuyển thành bệnh bạch cầu cấp với tiên lượng xấu, thời gian sống thêm thường không quá một năm [1]. Mạng lưới đồng thuận ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCCN) và Mạng lưới bệnh bạch cầu Châu Âu (ELN) đã phát triển các hướng dẫn theo dõi dựa trên bằng chứng nhằm hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân bệnh bạch cầu mạn dòng tủy.

Tại Việt Nam, năm 2022, Bộ Y tế cũng ban hành quyết định số 1832/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học”, bao gồm hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy [1]. Bản hướng dẫn này nhằm mục đích cập nhật và thay thế bản “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học” được ban hành vào năm 2015 theo quyết định số 1494/QĐ-BYT [2], giúp chuẩn hóa phác đồ điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại các cơ sở khám chữa bệnh, qua đó nâng cao chất lượng và kết quả điều trị. Kết quả điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy phụ thuộc vào mức độ bệnh nhân tuân thủ lâu dài với liệu pháp ức chế tyrosine kinase (TKI) đường uống và việc bác sĩ phải theo dõi cẩn thận đáp ứng điều trị của bệnh nhân [3]. Tính hợp lý của việc kê toa thuốc điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy theo các hướng dẫn điều trị là vấn đề cần quan tâm do việc không tuân thủ theo các khuyến cáo điều trị có thể ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị chung.

Mặc dù các hướng dẫn NCCN và ELN có thể dễ dàng tiếp cận dưới dạng bản in và trên internet, các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng một tỷ lệ đáng kể các bác sĩ Huyết học – Ung bướu không tuân thủ theo các hướng dẫn này trong thực hành lâm sàng [3]. Theo báo 1 cáo của Chen và cộng sự vào năm 2023, chỉ có 62,9% bác sĩ tuân thủ việc kê điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy theo các khuyến cáo điều trị hiện hành [4]. Tại Việt Nam, theo hiểu biết của chúng tôi, các dữ liệu hiện có về thực trạng kê đơn trong điều trị ngoại trú bệnh bạch cầu mạn dòng tủy còn rất hạn chế. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú điều trị bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại bệnh viện Truyền máu - Huyết học thành phố Hồ Chí Minh năm 2023” với hai mục tiêu như sau: 1.

Phân tích các chỉ số kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại bệnh viện Truyền máu - Huyết học thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích việc chỉ định thuốc trong điều trị ngoại trú bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại bệnh viện Truyền máu - Huyết học thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả của luận văn được kỳ vọng sẽ cung cấp thông tin về thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tại bệnh viện Truyền máu – Huyết học thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị phù hợp nhằm cải thiện thực hành chỉ định thuốc của bác sĩ trong điều trị ngoại trú bệnh lý này.

Quy định về kê đơn thuốc và các chỉ số kê đơn Đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị bệnh ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần tuân theo các văn bản pháp quy còn hiệu lực, được ban hành bởi Bộ Y tế. Nguyên tắc kê đơn Thông tư số 52/2017/TT-BYT đã đưa ra các quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hoá dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú. Điều 4 của thông tư đã chỉ ra tám nguyên tắc trong kê đơn thuốc hoá dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú, như sau [18]: 1. Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh.

Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh. Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả. Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic. Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: a) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế.

b) Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành. c) Dược thư quốc gia của Việt Nam; 5. Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị được quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này hoặc đủ sử dụng nhưng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày, trừ trường hợp quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư này. Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sĩ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh.

Bác sĩ, y sỹ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 được khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh mục kỹ thuật ở tuyến 4 (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt). Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sĩ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 2 Thông tư này kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh. Không được kê vào đơn thuốc các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 Luật dược, cụ thể: a) Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; b) Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam; c) Thực phẩm chức năng; d) Mỹ phẩm. Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc được đưa ra ở điều 6, Thông tư số 52/2017/TT-BYT [18].

Theo thông tư, việc kê đơn thuốc được quy định như sau: a) Thuốc có một hoạt chất - Theo tên chung quốc tế (INN, generic); Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol 500mg. - Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại). Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg, tên thương mại là A thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol (A) 500mg. b) Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương mại.

Các chỉ số kê đơn WHO định nghĩa việc sử dụng thuốc hợp lý là khi “bệnh nhân được chỉ định thuốc phù hợp với nhu cầu lâm sàng của họ, với liều lượng đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ, trong một khoảng thời gian thích hợp và với chi phí thấp nhất cho họ và cộng đồng”. Thực hành kê đơn không hợp lý dẫn đến điều trị không an toàn và không hiệu quả, làm nặng thêm hoặc kéo dài tình trạng bệnh, gây tổn hại cho bệnh nhân và tăng chi phí điều trị. Sử dụng thuốc không hợp lý cũng có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan đến các bệnh mạn tính. Sự gia tăng tình trạng kháng kháng sinh do lạm dụng kháng sinh là một trong những vấn đề chính của việc sử dụng thuốc không hợp lý [19].

Một số nguyên nhân phổ biến nhất của việc sử dụng thuốc không hợp lý là: dùng nhiều thuốc, sử dụng kháng sinh không hợp lý, lạm dụng thuốc tiêm và kê đơn thuốc không đúng hướng dẫn thực hành lâm sàng [19]. Các bước cơ bản để hạn chế việc sử dụng thuốc không hợp lý là xác định loại, mức độ và lý do sử dụng thuốc không hợp lý. Vào những năm 1990, WHO phối hợp với Mạng lưới sử dụng thuốc hợp lý quốc tế (INRUD) đã phát triển các chỉ số tiêu chuẩn để đánh giá thực hành sử dụng thuốc tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu. Chỉ số kê đơn tiêu chuẩn theo WHO/INRUD được thể hiện ở bảng 1.

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 08 năm 2013 Quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện. Phụ lục 6 trong thông tư này đã đưa ra các chỉ số kê đơn theo WHO/INRUD [21], bao gồm: a) Số thuốc kê trung bình trong một đơn; b) Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN); c) Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh; d) Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm; đ) Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin; e) Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành. Các chỉ số kê đơn theo tiêu chuẩn của WHO/INRUD [19], [20] Giá trị TT Chỉ số kê đơn Mục đích tiêu chuẩn theo WHO/INRUD 1. Số thuốc kê trung bình Đánh giá mức độ sử dụng trong một đơn nhiều thuốc trong một đơn 1,6 –1,8 thuốc 2.

Tỷ lệ phần trăm thuốc Đo lường xu hướng kê đơn được kê tên generic thuốc theo tên generic 100 % hoặc tên chung quốc tế (INN) 3. Tỷ lệ phần trăm đơn Đo lường tổng thể về tình 20,0% – 26,8% kê có kháng sinh hình sử dụng hai loại thuốc 4. Tỷ lệ phần trăm đơn kê quan trọng, nhưng chi phí có thuốc tiêm thường cao và thường bị 13,4% – 24,1% lạm dụng quá mức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ