Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, logistics đóng vai trò là hoạt động khâu trung gian giải quyết việc tối ưu hóa dòng chảy đầu vào và đầu ra cho doanh nghiệp, góp phần tiết giảm chi phí, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy thương mại. Trong hệ thống vận tải đa phương thức, cảng biển là đầu mối tập kết, lưu kho, trung chuyển và phân phối hàng hóa xuất nhập khẩu trên quy mô lớn, kết nối mạng lưới giao thông đường biển với đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.

Chi nhánh Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam – Cảng Dịch vụ Dầu khí Tổng hợp Quảng Bình (PTSC Quảng Bình) đảm nhận chức năng quản lý, khai thác bến cảng Hòn La. Bến cảng sở hữu các điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi: nằm trong vịnh Hòn La có diện tích 9 km², được che chắn sóng và hướng gió chính trong năm bởi các đảo Hòn Cỏ, Hòn La và Mũi Ông; kết nối thuận tiện với mạng lưới giao thông đường bộ qua Quốc lộ 1A (cách 3 - 4 km), Quốc lộ 12A đến Cửa khẩu quốc tế Cha Lo (153 km) sang nước bạn Lào và nối tới thị trấn Thà Khẹt trên biên giới Lào - Thái Lan (301 km); về đường biển cách tuyến hàng hải ven biển 5,5 - 6 hải lý và cách tuyến hàng hải quốc tế trên Biển Đông 360 hải lý, giữ vị trí trung tâm giữa hai cảng lớn là Hải Phòng và Đà Nẵng.

Mặc dù có lợi thế vị trí địa kinh tế chiến lược, hoạt động khai thác dịch vụ logistics tại cảng Hòn La đối mặt với nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng phương tiện thiết bị bốc xếp lạc hậu, công suất nhỏ và thiếu tính chuyên dụng; ví dụ như việc san gạt mặt bằng cho hàng dăm gỗ trên tàu đòi hỏi đưa máy ủi lên khoang nhưng cần cẩu tại cảng không đáp ứng được sức nâng. Nhu cầu hàng hóa thông quan qua cảng có thời điểm tăng cao, vượt 1,5 lần công suất thiết kế, dẫn đến hiện tượng quá tải và nguy cơ ách tắc lưu thông hàng hóa của các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Để giải quyết thực trạng này và hướng tới mục tiêu phát triển thành cảng biển loại I trong tương lai, tác giả Nguyễn Thùy Dung đã thực hiện đề tài nghiên cứu này.

Đề tài giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Tình hình hoạt động các dịch vụ logistics của PTSC Quảng Bình tại cảng Hòn La trong giai đoạn 2021-2023 như thế nào?
  2. Những giải pháp gì cần thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng cảng cho hoạt động dịch vụ logistics tại cảng Hòn La?

Mục tiêu chung của đề tài là phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ logistics của PTSC Quảng Bình tại cảng Hòn La, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ logistics trong giai đoạn tiếp theo. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ logistics cảng biển.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ logistics tại PTSC Quảng Bình giai đoạn 2021-2023.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác dịch vụ logistics của đơn vị.

Đối tượng nghiên cứu là thực trạng hoạt động dịch vụ logistics của PTSC Quảng Bình tại cảng Hòn La. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Cảng Hòn La thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; phạm vi thời gian sử dụng số liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023 (kèm số liệu nhân sự cập nhật tháng 11/2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình chuyên ngành:

  • Khái niệm và chức năng cảng biển: Trích dẫn Điều 73 và Điều 76 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, kết hợp định nghĩa cảng biển theo Giáo trình Quy hoạch Cảng (Trường Đại học Xây dựng, 1984). Theo đó, cảng biển bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và trang bị kỹ thuật để phục vụ tàu thuyền ra vào, bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và cung ứng các dịch vụ liên quan. Cảng biển được phân loại theo quy mô/tầm quan trọng (loại I, II, III), theo vai trò/vị trí (cảng tổng hợp, cảng container, cảng chuyên dụng, cảng trung chuyển, cảng cạn ICD) và theo đối tượng quản lý (cảng quốc gia, cảng địa phương, cảng tư nhân).
  • Khái niệm dịch vụ logistics: Dẫn chiếu định nghĩa của Ủy ban Quản trị Logistics Quốc tế, Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ (CLM) và Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005. Ngành logistics được xem xét qua ba đặc tính cơ bản: logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống.
  • Mô hình dịch vụ logistics cảng biển: Tiếp cận mô hình cấu trúc 6 hệ thống thứ cấp (trích xuất từ Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải số 17 - 4/2009), bao gồm: hệ thống hỗ trợ hành trình tàu, hệ thống phục vụ tàu vào cảng, hệ thống xếp dỡ, hệ thống phục vụ hàng quá cảnh, hệ thống lưu kho bãi, và hệ thống liên kết vận tải nội địa.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài triển khai ba phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp cận và trích xuất các nguồn số liệu nội bộ từ Chi nhánh Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam – Cảng Dịch vụ Dầu khí Tổng hợp Quảng Bình, bao gồm báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán, báo cáo tình hình khai thác cảng giai đoạn 2021-2023, số liệu nhân sự tháng 11/2024, cùng các văn bản quy hoạch của Bộ Giao thông Vận tải và Cục Hàng hải Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê so sánh: Đối chiếu số liệu giữa các năm 2021, 2022 và 2023 theo giá trị tuyệt đối và số tương đối (%) để phân tích biến động về lượt tàu, sản lượng hàng hóa thông quan, doanh thu, tài sản và nguồn vốn.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp, biểu diễn dữ liệu thông qua hệ thống bảng biểu và sơ đồ tổ chức, nhận diện cơ cấu và đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động dịch vụ logistics cảng biển

Chương này trình bày hệ thống lý luận về cảng biển, chuỗi dịch vụ logistics cảng biển và đánh giá bối cảnh thực tiễn của ngành logistics Việt Nam cũng như tỉnh Quảng Bình. Tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức cao, dao động từ 16,8% đến 18% GDP (thậm chí lên tới 20% GDP theo một số báo cáo), cao hơn đáng kể so với mức bình quân thế giới (10,6%) và các nước phát triển (7% - 9% hoặc 9% - 14%). Trong tổng cơ cấu chi phí logistics, chi phí vận tải chiếm 60%, chi phí xếp dỡ chiếm 21%, và chi phí kho bãi chiếm 12%. Cơ cấu phương thức vận tải nội địa còn mất cân đối khi vận tải đường bộ chiếm 73% tổng sản lượng, đường thủy nội địa chiếm 21,6%, vận tải biển chỉ chiếm 5,2%, đường sắt 0,2% và hàng không 0,01%. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực logistics thiếu hụt nghiêm trọng, chỉ có 5% - 7% lao động được đào tạo bài bản chuyên ngành, và khoảng 89% doanh nghiệp logistics trong nước là doanh nghiệp quy mô nhỏ, nắm giữ khoảng 30% thị phần.

Về quy hoạch hạ tầng cảng biển tỉnh Quảng Bình (thuộc nhóm cảng biển số 2, cảng biển tổng hợp địa phương loại II), tính đến năm 2023 toàn tỉnh có 10 cầu cảng với tổng chiều dài 602 m, đạt 111,1% về số lượng cầu cảng nhưng mới đạt 37,6% về tổng chiều dài so với quy hoạch chi tiết đến năm 2020 theo Quyết định số 2369/QĐ-BGTVT. Riêng khu bến Hòn La có 4 cầu cảng với tổng chiều dài 215 m (gồm 1 cầu hàng tổng hợp/rời dài 215 m và 3 bến phao, khu chuyển tải). Quy hoạch chi tiết giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 định hướng khu bến Hòn La phát triển lên từ 8 đến 11 cầu cảng, công suất thông qua hàng hóa đạt 12,65 - 15,4 triệu tấn và 48 - 60 nghìn lượt hành khách; đến năm 2025 dự kiến kéo dài cầu cảng thêm 150 m để đạt tổng chiều dài 365 m, tiếp nhận tàu trọng tải đến 30.000 DWT.

Chương 1 cũng tổng hợp kinh nghiệm phát triển cảng biển từ Cảng Thượng Hải (Trung Quốc - cảng container lớn nhất thế giới xử lý trên 40 triệu TEU/năm nhờ tự động hóa quy trình và chính sách thu hút đầu tư mở rộng), Cảng Singapore (xử lý trên 36 triệu TEU với hơn 200 cầu tàu, ứng dụng các hệ thống CITOS, PORTNET, Flow through Gate và cầu trục điều khiển từ xa), và Cảng Rotterdam (Hà Lan - cảng cửa ngõ châu Âu kết nối vận tải đa phương thức và tiên phong chuyển đổi xanh). Từ đó, tác giả rút ra hai bài học kinh nghiệm cho cảng Hòn La: một là tập trung hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư (tư nhân và FDI); hai là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và chuyển dịch xanh giảm phát thải theo cam kết COP26.

Chương 2: Thực trạng hoạt động dịch vụ logistics tại Chi nhánh Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam - Cảng Dịch vụ Dầu khí Tổng hợp Quảng Bình

Chương 2 đi sâu phân tích đối tượng nghiên cứu trên các khía cạnh tổ chức, nguồn lực và kết quả kinh doanh. Chi nhánh PTSC Quảng Bình được thành lập ngày 11/11/2008 theo Quyết định số 277/QĐ-DVKT-HĐQT của Tổng công ty PTSC; bến cảng Hòn La chính thức mở cảng theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGTVT ngày 10/9/2008 của Bộ Giao thông Vận tải và Quyết định số 215/QĐ-CHHVN ngày 27/02/2024 của Cục Hàng hải Việt Nam cho phép đón tàu biển đến 29.500 DWT với mớn nước tối đa 7,4 m. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc và 3 phòng chức năng: Phòng Kinh tế Tổng hợp, Phòng Điều độ Khai thác và Phòng Tài chính Kế toán.

Về cơ cấu lao động, tính đến tháng 11/2024 đơn vị có 39 nhân sự cơ hữu (chưa tính các nhà thầu phụ bốc xếp):

Tiêu chí phân loại Phân nhóm Số lượng (Người) Tỷ trọng (%)
Giới tính Nam 32 82,05
Nữ 7 17,95
Trình độ học vấn Đại học 18 46,20
Cao đẳng 3 7,00
Trung cấp hoặc tương đương 3 7,00
Công nhân kỹ thuật (CNKT) hoặc tương đương 15 39,08
Hợp đồng lao động HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 - 36 tháng 5 12,82
HĐLĐ không xác định thời hạn 34 87,18
Tính chất công việc Lao động quản lý 6 15,38
Lao động chuyên môn nghiệp vụ 9 23,08
Lao động trực tiếp sản xuất 24 61,54

Về cơ sở vật chất, cảng có 1 cầu tàu dạng bến bờ dài 215 m, rộng 25,5 m; 3 kho hàng kín gồm Kho số 1 (2.160 m²), Kho số 2 (2.772 m²), Kho số 3 (2.550 m²); bãi hàng tổng hợp bố trí ở phía Đông Nam và bãi hàng rời ở phía Tây Bắc; hệ thống đường giao thông nội bộ với trục chính 15 m và hai tuyến nhánh 14 m. Trang thiết bị khai thác gồm 8 cần cẩu bánh xích và bánh lốp (sức nâng 50 - 180 tấn), 4 xe nâng (5 tấn, 7 tấn, 10 tấn), 4 máy xúc lật (dung tích gàu từ 1,5 m³), 4 máy đào PC300 - PC400, 100 xe ben và đầu kéo sơ mi rơ mooc (5 - 32 tấn), 2 trạm cân điện tử 100 tấn, cùng đội tàu lai dắt công suất từ 500 Hp đến 5.000 Hp.

Phân tích tình hình tài chính giai đoạn 2021-2023 cho thấy:

  • Tổng tài sản biến động từ 177.545 triệu đồng (năm 2021) giảm xuống 158.597 triệu đồng (năm 2022) và phục hồi lên 178.083 triệu đồng (năm 2023). Tiền và tương đương tiền sụt giảm mạnh từ 36.060 triệu đồng năm 2021 xuống còn 4.168 triệu đồng năm 2023. Các khoản phải thu ngắn hạn tăng từ 1.077 triệu đồng lên 1.470 triệu đồng. Hàng tồn kho tăng từ 1.419 triệu đồng lên 2.720 triệu đồng. Giá trị tài sản dở dang dài hạn tăng liên tục từ 208,8 triệu đồng (2021) lên 287,935 triệu đồng (2022) và đạt 486,009 triệu đồng (2023).
  • Cơ cấu nguồn vốn: Tỷ lệ nợ phải trả duy trì quanh mức 52% - 53% tổng nguồn vốn (53,05% năm 2021, 52,42% năm 2022 và 52,26% năm 2023), nợ phải trả giảm từ 94.191 triệu đồng (2021) xuống 75.453 triệu đồng (2023). Tỷ trọng vốn chủ sở hữu tăng tương ứng từ 46,95% (năm 2021) lên 47,58% (năm 2022) và đạt 47,73% (năm 2023).

Thực trạng các dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2023 ghi nhận biến động rõ rệt qua lượt tàu và sản lượng hàng hóa:

Năm Tổng số lượt tàu Tàu XNK (Lượt) Tỷ trọng XNK (%) Tàu nội địa (Lượt) Tỷ trọng nội địa (%)
2021 200 140 70,00 60 30,00
2022 220 150 68,18 70 31,82
2023 180 70 38,90 110 61,10

Nguyên nhân năm 2023 lượt tàu xuất nhập khẩu giảm mạnh 53,33% (từ 150 lượt xuống 70 lượt) là do mặt hàng truyền thống clinker sụt giảm nghiêm trọng, nhà máy sản xuất phải dừng hoạt động từ đầu năm. Đơn vị đã bù đắp thông qua các hợp đồng dịch vụ cho các dự án điện gió tại khu vực Quảng Bình, Quảng Trị và nguồn hàng khoáng sản (than cám, kali) nhập khẩu, quá cảnh từ Lào, giúp lượt tàu nội địa tăng lên 110 lượt (chiếm 61,1%). Về sản lượng thông quan, hàng xuất khẩu năm 2021 đạt 704.748 tấn (hoặc ghi nhận 704.770 tấn trong bảng thống kê), năm 2022 tăng lên 745.394 tấn và giảm xuống khoảng 658 nghìn tấn năm 2023; hàng nội địa tăng trưởng mạnh từ 354.445 tấn (2021) lên 810.123 tấn (2022) và duy trì ở mức 740 nghìn tấn (2023); hàng nhập khẩu biến động mạnh khi giảm từ 163.832 tấn năm 2021 xuống 3.160 tấn năm 2022 và đạt trên 14 nghìn tấn năm 2023.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ logistics của PTSC Quảng Bình tại cảng Hòn La

Dựa trên định hướng quy hoạch cảng biển của tỉnh Quảng Bình và kết quả đánh giá thực trạng, khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và mở rộng quy mô cảng: Đẩy nhanh tiến độ dự án kéo dài cầu cảng thêm 150 m để đạt tổng chiều dài bến 365 m, đảm bảo năng lực tiếp nhận các tàu có tải trọng đến 30.000 DWT cập bến an toàn, nâng cao năng suất tiếp nhận và giải phóng tàu.
  • Hiện đại hóa phương tiện và trang thiết bị: Đầu tư thay thế các thiết bị bốc xếp cũ kỹ, nâng cấp hệ thống cẩu có công suất và tầm với lớn, bổ sung các trang thiết bị chuyên dụng phục vụ bốc xếp hàng rời (dăm gỗ, than cám, quặng kali) và hàng siêu trường siêu trọng phục vụ các dự án năng lượng tái tạo.
  • Tối ưu hóa chi phí và quản trị tài chính: Cân đối dòng tiền mặt, kiểm soát các khoản phải thu ngắn hạn từ khách hàng, quản trị chi phí vận hành dịch vụ logistics tại kho bãi và bến cảng.
  • Mở rộng thị trường và xúc tiến thương mại: Đẩy mạnh tìm kiếm nguồn hàng mới, đặc biệt là nguồn hàng khoáng sản quá cảnh từ Lào qua Cửa khẩu quốc tế Cha Lo và phục vụ logistics hậu cần cho các dự án điện gió, công nghiệp trong Khu kinh tế Hòn La.
  • Phát triển nguồn nhân lực và phát triển bền vững: Tổ chức đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho 61,54% lao động trực tiếp sản xuất; xây dựng đội ngũ quản lý chất lượng cao; thực hiện nghiêm ngặt các quy định về an toàn lao động, phòng chống cháy nổ (PCCC), bảo vệ môi trường biển và từng bước chuyển đổi mô hình cảng xanh theo định hướng COP26.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa được bức tranh toàn diện về năng lực hạ tầng và hoạt động kinh doanh logistics của PTSC Quảng Bình trong giai đoạn 2021-2023:

  • Hệ thống hóa hiện trạng hạ tầng: Cảng Hòn La chỉ có 01 cầu tàu dài 215 m, mớn nước tiếp nhận tối đa 7,4 m theo Quyết định số 215/QĐ-CHHVN, 3 nhà kho tổng diện tích trên 7.400 m² và hệ thống 8 cần cẩu bánh xích/bánh lốp.
  • Chỉ ra sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa và lượt tàu: Trước sự cố suy giảm nguồn hàng clinker trong năm 2023, tỷ trọng tàu nội địa đã tăng từ 30% (năm 2021) lên 61,1% (năm 2023), bù đắp lượng tàu xuất khẩu sụt giảm thông qua khai thác hàng thiết bị điện gió và hàng quá cảnh Lào (than cám, kali).
  • Phản ánh thực trạng tài chính: Doanh nghiệp duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tăng dần từ 46,95% lên 47,73%, nợ phải trả được thu hẹp về mức 52,26%, song lượng tiền và tương đương tiền giảm mạnh phản ánh áp lực vốn lưu động và dòng tiền tái đầu tư hạ tầng dở dang (tăng lên 486,009 triệu đồng năm 2023).
  • Đóng góp thực tiễn: Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp xuất phát trực tiếp từ các điểm nghẽn kỹ thuật và thị trường của PTSC Quảng Bình, gắn kết định hướng phát triển cảng Hòn La với các quy hoạch ngành quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi dữ liệu thu thập:

  • Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các số liệu thứ cấp nội bộ từ PTSC Quảng Bình giai đoạn 2021-2023, chưa thực hiện các cuộc khảo sát điều tra xã hội học định lượng về mức độ hài lòng của khách hàng và các chủ hàng sử dụng dịch vụ tại cảng.
  • Dữ liệu tài chính và doanh thu chi tiết cho từng loại hình dịch vụ logistics chuyên sâu còn bị giới hạn theo mức độ công bố thông tin của chi nhánh doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát chuỗi cung ứng hàng quá cảnh từ Lào qua Cửa khẩu quốc tế Cha Lo về cảng Hòn La, hoặc xây dựng mô hình đánh giá chi tiết tính khả thi tài chính của dự án đầu tư kéo dài cầu bến lên 365 m.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Logistics, Quản lý chuỗi cung ứng, Kinh tế biển, Quản trị kinh doanh vận tải. Các bảng số liệu thực tế về cơ cấu lao động kỹ thuật, biến động lượt tàu, sản lượng hàng thông quan, cơ cấu tài sản - nguồn vốn và hiện trạng trang thiết bị bốc xếp cảng biển là nguồn dữ liệu thực chứng cho những nghiên cứu về logistics cảng biển tại khu vực Bắc Trung Bộ. Bên cạnh đó, nội dung đánh giá thực trạng tại bến cảng Hòn La cũng cung cấp tư liệu thực tiễn cho các nhà quản lý doanh nghiệp cảng biển trong việc hoạch định chính sách thu hút nguồn hàng thay thế khi thị trường hàng rời truyền thống biến động.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Cảng Hòn La có những thuận lợi gì đối với hoạt động hàng hải?
Cảng Hòn La nằm trong vịnh Hòn La có diện tích 9 km², được che chở kín sóng và kín gió bởi hệ thống đảo Hòn Cỏ, Hòn La và Mũi Ông. Về giao thông, cảng cách Quốc lộ 1A từ 3 - 4 km, cách Cửa khẩu Cha Lo trên biên giới Việt - Lào 153 km theo Quốc lộ 12A, cách Thà Khẹt (biên giới Lào - Thái Lan) 301 km. Về đường biển, cảng chỉ cách tuyến hàng hải ven biển 5,5 - 6 hải lý, cách tuyến quốc tế 360 hải lý và nằm ở trung tâm giữa hai cảng biển lớn Hải Phòng và Đà Nẵng.

2. Năng lực tiếp nhận tàu và thông số kỹ thuật của cầu cảng Hòn La hiện hữu như thế nào?
Bến cảng Hòn La hiện có 01 cầu tàu dạng bến bờ với chiều dài 215 m và chiều rộng 25,5 m. Cầu cảng tiếp nhận tàu 10.000 DWT đầy tải và theo Quyết định số 215/QĐ-CHHVN ngày 27/02/2024 của Cục Hàng hải Việt Nam, cảng được phép tiếp nhận tàu biển Việt Nam và nước ngoài có trọng tải đến 29.500 DWT giảm tải (mực nước mớn nước tối đa không quá 7,4 m).

3. Cơ cấu nguồn nhân lực của PTSC Quảng Bình tại thời điểm tháng 11/2024 có đặc điểm gì?
Tổng số lao động cơ hữu của đơn vị là 39 người, trong đó nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 82,05% (32 người), nữ chiếm 17,95% (7 người). Về trình độ, có 18 người trình độ đại học (46,2%), 3 cao đẳng (7,0%), 3 trung cấp (7,0%) và 15 công nhân kỹ thuật/tương đương (39,08%). Về phân loại lao động, lao động trực tiếp sản xuất chiếm tỷ trọng lớn nhất với 61,54% (24 người), lao động chuyên môn nghiệp vụ chiếm 23,08% (9 người) và lao động quản lý chiếm 15,38% (6 người); lao động ký HĐLĐ không xác định thời hạn đạt 87,18%.

4. Lượt tàu ra vào Cảng Hòn La giai đoạn 2021-2023 biến động ra sao và nguyên nhân do đâu?
Tổng lượt tàu đạt 200 lượt năm 2021, tăng lên 220 lượt năm 2022 nhưng giảm xuống 180 lượt vào năm 2023. Đáng chú ý, lượt tàu xuất nhập khẩu giảm mạnh từ 150 lượt (2022) xuống còn 70 lượt (2023) do mặt hàng xuất khẩu truyền thống clinker bị sụt giảm nghiêm trọng (nhà máy phải tạm dừng sản xuất từ đầu năm 2023). Ngược lại, lượt tàu nội địa tăng từ 60 lượt (2021) lên 110 lượt (2023) nhờ đơn vị đẩy mạnh tiếp nhận các dự án điện gió tại Quảng Bình - Quảng Trị và nguồn hàng than cám, kali quá cảnh từ Lào.

5. Mục tiêu quy hoạch hạ tầng cầu bến cảng Hòn La đến năm 2025 được xác định như thế nào?
Theo quy hoạch chi tiết được dẫn trong văn bản, dự kiến đến năm 2025, bến cảng Hòn La sẽ được triển khai kéo dài thêm 150 m để nâng tổng chiều dài cầu cảng hiện hữu từ 215 m lên 365 m, cho phép tiếp nhận an toàn các cỡ tàu biển có trọng tải đến 30.000 DWT, đáp ứng lượng hàng thông quan dự kiến đạt từ 2,5 đến 3,2 triệu tấn vào năm 2025 và 3,0 đến 4,0 triệu tấn vào năm 2030.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thùy Dung đã phản ánh bức tranh thực trạng về năng lực hạ tầng, nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics của PTSC Quảng Bình tại bến cảng Hòn La giai đoạn 2021-2023. Công trình làm rõ những thách thức kỹ thuật nội tại về tình trạng quá tải cục bộ, thiết bị xếp dỡ hạn chế cũng như sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa trước biến động của nguồn hàng truyền thống. Các nhóm giải pháp nâng cấp kéo dài cầu bến lên 365 m, hiện đại hóa thiết bị bốc dỡ và khai thác nguồn hàng quá cảnh hành lang kinh tế Đông - Tây mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý và định hướng phát triển cảng Hòn La trong giai đoạn tới.