CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ HÀNH VI, CẢM XÚC CHO TRẺ CÓ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN HỌC HÒA NHẬP TRONG TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về vấn đề hành vi, cảm xúc của trẻ em có rối loạn phát triển 1. Trẻ em có rối loạn phát triển Theo Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (APA, 2013), rối loạn phát triển thần kinh là một nhóm các rối loạn khởi phát sớm trong quá trình phát triển, thường trước khi trẻ đến tuổi đi học và được đặc trưng bởi những khiếm khuyết trong chức năng xã hội, học tập hoặc nghề nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các rối loạn phát triển gặp phổ biến là rối loạn phổ tự kỷ, tăng động giảm chú ý, rối loạn phát triển trí tuệ, rối loạn giao tiếp và trễ về phát triển. Ở mỗi dạng rối loạn, các vấn đề về tỉ lệ, nguyên nhân, các đặc trưng, cách thức hỗ trợ hay các mối liên hệ/sự tác động (quan điểm của giáo viên, chính sách, mô hình) đều được đề cập và nghiên cứu. Trẻ có rối loạn phổ tự kỷ Nghiên cứu về tỉ lệ rối loạn phổ tự kỷ trên thế giới được thực hiện bởi hầu hết các tổ chức y tế và khoa học lớn như Mạng lưới tầm soát các khuyết tật phát triển (Autism and Developmental Disabilities Monitoring, ADDM) của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC). Theo báo cáo công bố của CDC năm 2023, tỷ lệ mắc RLPTK chung trên số liệu thu thập năm 2020 là 27.8%) và phổ biến ở bé trai gấp 3,8 lần so với bé gái (43.4) – 4% bé trai và 1% bé gái.9% trẻ được phân loại là RLPTTT và nhìn chung trẻ RLPTK có RLPTTT có độ tuổi chẩn đoán trung bình sớm hơn (43 tháng) so với những trẻ RLPTK không RLPTTT (52 tháng).
RLPTK xảy ra ở tất cả các chủng tộc, sắc tộc, kinh tế và xã hội. Giai đoạn 2019 – 2021 không có sự thay đổi đáng kể trong tỉ lệ (2. Tỉ lệ RLPTK ở Châu Á được tổng hợp từ các nghiên cứu từ lúc bắt đầu đến tháng 6/2018 ở các quốc gia Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ), Tây Á (Lebanon, Bangladesh, Iran, 7 Israel) và Nam Á (Nepal, Sri Lanka) ước tính tổng hợp về tỉ lệ RLPTK trong số các nghiên cứu thu nhận được là 0.36% và dao động từ 0.26% ở Hàn Quốc; tỉ lệ ở nam giới là 0,45% cao hơn ở nữ giới (0. Tỉ lệ RLPTK ở Đông Á là 0.35% và nhìn chung đang gia tăng ở Châu Á (Qiu, Lu, Li, Shi, Cui, Gu, Qiao, 2020).
Ở Việt Nam, theo báo cáo nghiên cứu tổng hợp các thống kê lớn, chủ chốt và toàn diện về tỉ lệ RLPTK trên thế giới và ở Việt nam, con số ước lượng tỉ lệ trẻ RLPTK trên thế giới dao động khoảng 0.5%, còn tỉ lệ RLPTK ở VN dao động trong khoảng 0. Tỉ lệ RLPTK được xác định trong trẻ em nói riêng và dân số nói chung đang ngày càng tăng lên, đặc biệt từ khoảng những năm 1990 cho đến nay (Trần Văn Công và Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2017). Tổng cục thống kê báo cáo tỉ lệ người khuyết tật năm 2019 công bố có khoảng 1 triệu người tự kỷ tỉ lệ trẻ em có rối loạn phổ tự kỷ ước tính là 1% số trẻ em. Tỉ lệ rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ 24 tháng đến 72 tháng tuổi theo tiêu chuẩn DSM-5 qua thăm khám tại các cơ sở nuôi dạy trẻ tại Cần thơ năm 2021 ghi nhận tỉ lệ rối loạn phổ tự kỷ là 1.
Theo CDC, hiện tại rối loạn phổ tự kỷ không chỉ có một nguyên nhân gây ra mà còn có nhiều yếu tố khác nhau được xác định có thể khiến trẻ dễ có RLPTK hơn, bao gồm các yếu tố môi trường, sinh học, di truyền. Nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỷ đề cập nguyên nhân của rối loạn này cũng cho thấy các nguyên nhân về cấu trúc hệ thần kinh, gen, di truyền đều có liên quan, tuy nhiên chưa có xác định nguyên nhân cụ thể nào được đưa ra (Hodges, Fealko, Soares, 2020). RLPTK thường đặc trưng bởi các vấn đề về giao tiếp và tương tác xã hội trên nhiều bối cảnh trong cả tiền sử lẫn hiện tại và các hành vi hoặc sở thích định hình lặp lại, xuất hiện trong giai đoạn phát triển sớm nhưng không biểu hiện đầy đủ cho đến khi nhu cầu xã hội vượt quá khả năng, hoặc có thể bị che giấu bởi các chiến lược ứng phó đã học tập trong cuộc sống sau này. RLPTK cũng thường có các rối loạn đi kèm như rối loạn phát triển trí tuệ, rối loạn ngôn ngữ (DSM-5).
Nghiên cứu cũng xác định một số rối loạn tâm thần đi kèm với rối loạn phổ tự kỷ như rối loạn 8 cảm xúc, lo âu, ám ảnh cường chế (Matson, Nebel-Schwalm, 2007). Tỉ lệ đồng bệnh ở Hoa Kỳ và 5 nước Châu Âu có sự khác biệt khá xa: với tăng động giảm chú ý từ 0.00 – 86%; với rối loạn lo âu từ 0,00 đến 82.20%; với rối loạn trầm cảm trong khoảng từ 0.80%; với động kinh trong khoảng 2.50%; với rối loạn giấc ngủ từ 2. Nghiên cứu cắt ngang tỉ lệ rối loạn giấc ngủ ở một nhóm trên 100 trẻ có tự kỷ được chẩn đoán bởi bệnh viện Nhi Trung Ương tại Việt Nam cũng có tỉ lệ rất cao (81.2%); trẻ có RLPTK có các đặc điểm như mức độ tự kỷ nặng, có đồng rối loạn tăng động giảm chú ý, mắc táo bón chức năng, có tỉ lệ rối loạn giấc ngủ cao hơn trẻ có tự kỷ không có những đặc điểm này. Trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý Trẻ có RLTĐGCY thường được phát hiện khi bắt đầu đi học.
Trong những thập kỷ trước, trọng tâm thông tin thu được và chẩn đoán RLTĐGCY thường là trẻ em ở độ tuổi đi học, điều này đã được mở rộng để bao gồm các lứa tuổi mẫu giáo từ 2 tuổi (CDC, 2022). Tăng động giảm chú ý là một dạng rối loạn phát triển, trong đó tỉ lệ trẻ có RLTĐGCY theo số liệu cập nhật của CDC đã thay đổi theo thời gian. Cuộc khảo sát quốc gia đầu tiên hỏi trên các bậc cha mẹ về RLTĐGCY từ năm 1997, có xu hướng tăng lên kể từ đó cho tới nay. Với dữ liệu từ năm 2016 – 2019, CDC ước tính số trẻ em từ 3 – 17 tuổi từng được chẩn đoán RLTĐGCY là 6 triệu (9.8%) trong đó: trẻ 3 – 5 tuổi là 265.4 triệu (10%); 12 – 17 tuổi là 3.
Tỉ lệ RLTĐGCY là khoảng 3 - 7% theo DSM-5 (APA, 2013) và 7. Tại Hàn Quốc, tỉ lệ phổ biến chung của RLTĐGCY được chẩn đoán tăng mạnh trong giai đoạn từ 2008 đến 2018 (tăng từ 127.47 lần ở trẻ em/thanh thiếu niên (< 18 tuổi). Và trong số đó, lần lượt có ít nhất 1 rối loạn tâm thần đi kèm (ở người lớn là 78.72%; ở trẻ em/vị thành niên là 61. Tỉ lệ trẻ TĐGCY ở Trung Quốc giai đoạn 1983 – 2011 là 5.7%; tỉ lệ bé trai là 7.5% và bé gái là 3.4% (Tong, Shi, Zang, 2013); một nghiên cứu khác cho giai đoạn 2016 trở 9 về trước, tỉ lệ trẻ em và thanh thiếu niên có RLTĐGCY ở Trung Quốc là 6.26% (Wang và cs.
Tỉ lệ TĐGCY ở Việt Nam trong hội thảo Quản lý và điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý của Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2021 theo báo cáo của tác giả Nguyễn Mai Hương mỗi năm lượt khám TĐGCY chiếm gần 20% trong tổng 3000 lượt khám. Nghiên cứu Thực trạng rối loạn RLTĐGCY tại khoa tâm thần bệnh viện Nhi Trung Ương kết quả cho thấy phần lớn trẻ có RLĐGCY được chẩn đoán ở độ tuổi 6 – 10 tuổi và trung bình là 7. Hiện nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân cụ thể của RLTĐGCY. Nghiên cứu gần đây cho thấy di truyền góp phần gây ra RLTĐGCY và một số gen có liên quan đến rối loạn này, nhưng không có gen hoặc sự kết hợp gen cụ thể nào được xác định là nguyên nhân gây ra rối loạn (APA).
Nghiên cứu về yếu tố môi trường cho thấy chưa có yếu tố nguy cơ trước sinh nào được đề xuất có thể được xác nhận là nguyên nhân gây ra RLTĐGCY và thiết kế nghiên cứu càng chặt chẽ thì càng ít có khả năng chỉ ra sự liên quan (Sciberras, 2017). RLTĐGCY đặc trưng bởi biểu hiện mất chú ý và/hoặc tăng động/xung động một cách dai dẳng cản trở chức năng của sự phát triển (DSM-5). Theo khảo sát phụ huynh quốc gia năm 2016, 6 trong 10 trẻ có RLTĐGCY có ít nhất một rối loạn tâm thần, cảm xúc hoặc hành vi khác: khoảng một nửa số trẻ có RLTĐGCY có vấn đề hành vi hoặc ứng xử và khoảng 3 trạng 10 trẻ RLTĐGCY có các rối loạn lo lắng (CDC, 2022). Trẻ TĐGCY thường có các rối loạn đi kèm như rối loạn hành vi, rối loạn thách thức chống đối, Tic, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, lo âu, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ, khuyết tật học tập, rối loạn sử dụng chất gây nghiện.
Những trạng thái này thường xảy ra đồng thời và làm thay đổi tiến trình, hệ quả của trẻ có TĐGCY (Spencer, 2006). Phần lớn trẻ TĐGCY được chẩn đoán ở độ tuổi 6 – 10 tuổi và các rối loạn tâm thần phối hợp thường gặp là rối loạn giao tiếp (53.7%), rối loạn bướng bỉnh đối (38.8%) và rối loạn Tic, các dấu hiệu trầm cảm, lo âu có cùng tỉ lệ là 7.5% (Trần Nguyễn Ngọc và cs. Trẻ có rối loạn phát triển trí tuệ Nghiên cứu về tỉ lệ trẻ từ 3 – 17 tuổi được chẩn đoán rối loạn phát triển trí tuệ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 2019 – 2021 theo dữ liệu của CDC cho thấy không 10 có sự thay đổi đáng kể: 1. Trong giai đoạn này, tỉ lệ rối loạn phát triển trí tuệ ở bé trai (2.
Tỉ lệ này tăng theo độ tuổi từ 1.39% ở trẻ 3 – 7 tuổi lên 2. Khoảng 1 trong 6 (17%) trẻ em từ 3–17 tuổi được chẩn đoán bị khuyết tật phát triển, theo báo cáo của cha mẹ, trong thời gian nghiên cứu 2009 - 2017. Chúng bao gồm tự kỷ, rối loạn tăng động/giảm chú ý, mù lòa và bại não, cùng nhiều bệnh khác. Tỉ lệ RLPTTT ở Châu Á là 0.3%, ngoại trừ Trung Quốc là 6.
Tỉ lệ RLPTTT ở Hàn Quốc được nghi nhận cao nhất là nhóm RLPTTT nhẹ với mức tăng từ 23.9% năm 2019; tiếp theo là tỉ lệ RLPTTT trung bình đến nặng. Tỉ lệ trẻ RLPTTT ở Việt Nam theo thống kê của tổng điều tra dân số 2009 có khoảng 1.4 triệu trẻ khuyết tật, trong đó trẻ RLPTTT chiếm tỉ lệ cao nhất - khoảng 28.