Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phần phụ tại BV Phụ sản TW

Tổng quan thực trạng sử dụng kháng sinh trong phác đồ điều trị viêm phần phụ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, cung cấp dữ liệu và phân tích.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

118
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm phần phụ và thực trạng sử dụng kháng sinh

Viêm phần phụ là một trong những bệnh phụ khoa thường gặp, gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Bệnh do nhiễm khuẩn các cơ quan sinh dục nữ, bao gồm ống dẫn trứng và buồng trứng. Thực trạng sử dụng kháng sinh trị viêm phần phụ tại các bệnh viện phụ sản hiện nay đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ y tế phải tuân thủ chặt chẽ các phác đồ điều trị được khuyến cáo. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy cần thiết phải đánh giá kỹ lưỡng lựa chọn kháng sinh, liều dùng và đường dùng phù hợp. Việc sử dụng không hợp lý kháng sinh không chỉ làm tăng chi phí điều trị mà còn góp phần vào vấn đề kháng thuốc kháng sinh toàn cầu, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị lâu dài.

1.1. Định nghĩa và căn nguyên vi sinh gây viêm phần phụ

Viêm phần phụ là tình trạng viêm nhiễm các cơ quan sinh sản nữ, thường do vi khuẩn gram âm như Neisseria gonorrhoeae và gram dương như Streptococcus agalactiae gây ra. Các tác nhân vi sinh gây bệnh có thể đến từ đường sinh dục hoặc lan từ các cơ quan lân cận. Việc hiểu rõ về căn nguyên vi sinh giúp lựa chọn kháng sinh phù hợp và tăng hiệu quả điều trị.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh

Nghiên cứu thực trạng sử dụng kháng sinh giúp đánh giá tính hợp lý trong lựa chọn và sử dụng các loại kháng sinh. Kết quả từ Bệnh viện Phụ sản Trung ương cung cấp những bằng chứng quan trọng về liều dùng, đường dùngthời gian điều trị. Điều này hỗ trợ cải thiện chất lượng điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

II. Đặc điểm vi sinh và kháng sinh đồ của các mẫu bệnh phẩm

Trong khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh tại Khoa Sản nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, các nhà nghiên cứu đã phân tích các loại vi khuẩnđặc điểm kháng thuốc của chúng. Kết quả cho thấy tỉ lệ vi khuẩn đa kháng khá cao, đòi hỏi phải lựa chọn kháng sinh dựa trên kết quả xét nghiệm vi sinh. Bệnh phẩm được thu thập từ các mô bệnh sinh, dịch tiêu xương chậu, giúp xác định chính xác tác nhân gây bệnh. Việc thực hiện kháng sinh đồ cho phép đánh giá độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với các loại kháng sinh, từ đó hướng dẫn lựa chọn điều trị hiệu quả nhất.

2.1. Các loại vi khuẩn thường gặp trong viêm phần phụ

Vi khuẩn gram âm như Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và vi khuẩn gram dương như Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae là các tác nhân chủ yếu. Ngoài ra, vi khuẩn yên thường như Prevotella, Bacteroides cũng có thể gây viêm phần phụ. Sự đa dạng này yêu cầu phác đồ điều trị phải có phổ rộng.

2.2. Mức độ kháng thuốc kháng sinh hiện nay

Tỉ lệ vi khuẩn kháng đối với penicillin, cephalosporin thế hệ thứ nhất ngày càng tăng. Đặc biệt, MRSA (Staphylococcus aureus kháng methicillin) được phát hiện trong một số mẫu bệnh phẩm. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của xét nghiệm vi sinh trước khi sử dụng kháng sinh.

III. Các phác đồ kháng sinh được sử dụng và tuân thủ khuyến cáo

Phác đồ điều trị viêm phần phụ được khuyến cáo bởi các tổ chức y tế quốc tế bao gồm liệu pháp kháng sinh kép với fluoroquinolone kết hợp metronidazole, hoặc cephalosporin thế hệ thứ 3 kết hợp doxycycline. Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, nghiên cứu đã đánh giá tỉ lệ phác đồ kinh nghiệm ban đầu nằm trong các khuyến cáo. Kết quả cho thấy liều dùng, đường dùng (tĩnh mạch, uống) và thời gian điều trị phần lớn tuân thủ các hướng dẫn. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số trường hợp sử dụng kháng sinh không phù hợp, cần cải thiện.

3.1. Các phác đồ khuyến cáo trong điều trị nội trú

Phác đồ thứ nhất: Ofloxacin + Metronidazole hoặc Ceftriaxone + Doxycycline + Metronidazole. Phác đồ thứ hai: Cefotetan hoặc Clindamycin + Gentamicin. Các phác đồ này được xây dựng dựa trên phổ vi khuẩnkháng sinh đồ của các tác nhân thường gặp. Tuân thủ phác đồ giúp tăng hiệu quả điều trị lên 85-90%.

3.2. Tỉ lệ tuân thủ phác đồ và các yếu tố ảnh hưởng

Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ tuân thủ phác đồ khuyến cáo đạt khoảng 75-80%. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ, tình trạng tài chính của bệnh nhân, và sẵn có dược phẩm. Việc đưa ra các khuyến cáo rõ rànggiáo dục y tế có thể cải thiện tỉ lệ tuân thủ.

IV. Hạn chế và đề xuất cải thiện sử dụng kháng sinh

Mặc dù Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã có những tiến bộ trong sử dụng kháng sinh hợp lý, vẫn tồn tại một số hạn chế. Thứ nhất, xét nghiệm vi sinh không được thực hiện cho tất cả bệnh nhân do hạn chế về tài chính và kỹ thuật. Thứ hai, thời gian chờ kết quả từ xét nghiệm dẫn đến việc sử dụng phác đồ kinh nghiệm ban đầu dài hơi cần thiết. Thứ ba, thông tin sản phẩm về kháng sinh chưa được cập nhật thường xuyên. Để cải thiện, cần nâng cao nhận thức về kháng thuốc kháng sinh, tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn, và xây dựng quy trình chuẩn hóa trong sử dụng kháng sinh.

4.1. Các hạn chế chính trong nghiên cứu và thực tiễn lâm sàng

Hạn chế chính gồm: (1) Không có xét nghiệm vi sinh trước khi sử dụng kháng sinh cho một phần bệnh nhân; (2) Thời gian xử lý mẫu bệnh phẩm dài (3-5 ngày) làm chậm điều chỉnh phác đồ; (3) Tài liệu hướng dẫn về liều dùng kháng sinh trong các tình huống đặc thù còn hạn chế. Những hạn chế này ảnh hưởng đến hiệu quả điều trịkiểm soát chi phí.

4.2. Các đề xuất để nâng cao chất lượng sử dụng kháng sinh

Cần xây dựng chương trình quản lý kháng sinh toàn viện, tăng cường đào tạo cho nhân viên y tế về kháng thuốc kháng sinh. Ứng dụng công nghệ như PCR nhanh để rút ngắn thời gian chẩn đoán. Thiết lập nhóm giám sát kháng sinh để kiểm soát việc sử dụng kháng sinh không hợp lý.

18/12/2025
Tạ thị mai chi khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phần phụ tại khoa sản nhiễm khuẩn bệnh viện phụ sản trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phần phụ cấp là tình trạng viêm cấp tính ở phần phụ của phụ nữ (bao gồm: vòi tử cung, buồng trứng và dây chằng rộng) do vi khuẩn. Bệnh có thể để lại các di chứng nghiêm trọng về sinh sản, bao gồm vô sinh do yếu tố ống dẫn trứng, chửa ngoài tử cung và đau vùng chậu mạn tính [6]. Ước tính rằng 10% - 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đã từng mắc một đợt viêm phần phụ [32]. Tại Mỹ, giai đoạn 2013-2014, tỉ lệ mắc viêm phần phụ ở phụ nữ đã từng quan hệ tình dục trong độ tuổi 18 – 44 là khoảng 4,4% và tỉ lệ này ở phụ nữ có tiền sử mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục là 10% [47].

Trong một phân tích của Ngân hàng Thế giới, gánh nặng của bệnh viêm phần phụ ở phụ nữ thậm chí còn cao hơn cả gánh nặng bệnh tật liên quan đến HIV ở nam giới [20]. Mặc dù có rất ít dữ liệu về dịch tễ học viêm phần phụ ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, các vấn đề liên quan đến bệnh lí này như đau vùng chậu mạn tính và vô sinh chắc chắn là những gánh nặng sức khỏe toàn cầu đáng quan tâm. Tổn thương ống dẫn trứng, một biến chứng liên quan của viêm phần phụ, cũng có thể dẫn đến chửa ngoài tử cung - là nguyên nhân gây tử vong ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản trên toàn cầu [41]. Trên thế giới, các nghiên cứu về bệnh lí viêm phần phụ chủ yếu tập trung vào dịch tễ học, các căn nguyên gây viêm phần phụ, độ nhạy cảm với kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được và xác định hiệu quả điều trị của các phác đồ kháng sinh cụ thể.

Có rất ít nghiên cứu về thực trạng sử dụng kháng sinh hay đánh giá tính hợp lí về sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phần phụ [27], [35], [47], [80]. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào báo cáo tỉ lệ hiện mắc của bệnh lý viêm phần phụ. Tuy nhiên, một số nghiên cứu của Thân Thị Hải Hà tại khoa Sản nhiễm khuẩn bệnh viện Phụ sản Trung ương đã ghi nhận viêm phần phụ là bệnh lý nhiễm khuẩn phổ biến nhất tại đây [8], [9]. Điều này gợi ý rằng ở nước ta viêm phần phụ cũng là bệnh lý phụ khoa gây nhập viện phổ biến trên phụ nữ.

Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam về tác nhân gây bệnh và điều trị viêm phần phụ hiện có rất ít. Một số nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xác định tỉ lệ điều trị ngoại khoa và hiệu quả của các can thiệp ngoại khoa trong điều trị viêm phần phụ [10], [11], [15]. Nghiên cứu của tác giả Đinh Quốc Hưng (2017) có báo cáo về các tác nhân gây viêm phần phụ, tuy nhiên đối tượng của nghiên cứu này chỉ giới hạn trong các bệnh nhân viêm phần phụ có mổ nội soi [10]. Trong phạm vi kiến thức của mình, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào tại Việt Nam về các tác nhân gây viêm phần phụ nói chung và thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phần phụ.

Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối về sản phụ khoa, bệnh nhân viêm phần phụ nhập viện được điều trị tại Khoa Sản nhiễm khuẩn của bệnh viện [1]. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về viêm phần phụ trước đây tại 1 bệnh viện, chưa có nghiên cứu nào phân tích về thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị nội trú viêm phần phụ. Việc khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh lý này giúp xác định những vấn đề cần cải thiện trong điều trị cũng như là cơ sở xây dựng hướng dẫn phác đồ điều trị viêm phần phụ tại bệnh viện. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phần phụ tại khoa Sản nhiểm khuẩn, bệnh viện Phụ sản Trung ương” với 2 mục tiêu như sau: 1.

Khảo sát đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm vi sinh trong bệnh lí viêm phần phụ tại khoa Sản nhiễm khuẩn, bệnh viện Phụ sản Trung ương 2. Khảo sát đặc điểm sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phần phụ tại khoa Sản nhiễm khuẩn, bệnh viện Phụ sản Trung ương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tổng quan về bệnh lý viêm phần phụ 1. Định nghĩa Viêm phần phụ là tình trạng viêm nhiễm ở phần phụ do vi khuẩn. Phần phụ bao gồm: vòi tử cung, buồng trứng và dây chằng rộng.

Viêm phần phụ phần lớn thường bắt đầu từ viêm vòi tử cung, sau đó lan ra xung quanh. Viêm phần phụ thường do sự nhiễm trùng tăng dần của các vi sinh vật từ đường sinh dục dưới, ngoài ra còn có thể xảy ra sau đẻ do nhiễm khuẩn từ tử cung lan sang dây chằng rộng, vòi tử cung, buồng trứng [6]. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào các đối tượng viêm phần phụ do nguyên nhân nhiễm trùng tăng dần của các vi khuẩn từ đường sinh dục dưới. Viêm phần phụ cấp nếu không được điều trị tốt có thể tiến triển thành các ổ áp- xe.

Áp-xe phần phụ (TOA) là một khối viêm liên quan đến vòi tử cung, buồng trứng và đôi khi là các cơ quan vùng chậu lân cận khác (ví dụ như ruột, bàng quang). Vòi tử cung và buồng trứng có thể dính thành một khối và chứa mủ. Áp-xe phần phụ thường là tình trạng tiến triển nặng của viêm phần phụ, đôi khi nó cũng có thể hình thành từ sự lây lan tại chỗ của nhiễm trùng liên quan đến viêm ruột hoặc phẫu thuật vùng chậu [26], [81]. Các thuật ngữ khác tương đương với viêm phần phụ là viêm vùng chậu hay viêm tiểu khung (pelvic inflammatory disease - PID) được sử dụng phổ biến hơn trong các y văn trên thế giới.

Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), viêm vùng chậu (PID) bao gồm một loạt các rối loạn viêm ở đường sinh dục trên của phụ nữ, bao gồm bất cứ phối hợp nào của viêm nội mạc tử cung (endometritis), viêm vòi tử cung (salpingitis), áp-xe vòi tử cung - buồng trứng (TOA : tubo-ovarian abscess) và viêm phúc mạc vùng chậu (pelvic peritonitis)[83]. Có thể thấy rằng, về mặt khái niệm, viêm phần phụ được dùng để nói đến những trường hợp phổ biến của viêm vùng chậu. Khái niệm “viêm vùng chậu” của CDC mở rộng phạm vi trong những trường hợp viêm phần phụ lây lan đến các cơ quan khác như niêm mạc tử cung, phúc mạc vùng chậu hoặc tăng nặng dẫn đến tình trạng áp-xe. Viêm niêm mạc tử cung do nguyên nhân phụ khoa thường xuất hiện kèm theo viêm phần phụ cấp tính.

Nói cách khác, hầu hết các trường hợp viêm phần phụ có kèm theo viêm niêm mạc tử cung. Viêm phúc mạc vùng chậu có thể xuất hiện khi vi khuẩn gây viêm phần phụ lây lan đến các tế bào phúc mạc. Ngoài các nguyên nhân về phụ khoa, viêm niêm mạc tử cung và viêm phúc mạc vùng chậu xuất hiện thường xuyên hơn do các nguyên nhân về sản khoa như sau sẩy thai, sau sinh [6] – là những trường hợp loại trừ trong nghiên cứu của chúng tôi. Do thuật ngữ “viêm phần phụ” được dùng phổ biến hơn trong tài liệu 3 về điều trị trong nước, nên chúng tôi sử dụng thuật ngữ này để thay thế cho “viêm vùng chậu” vốn thường gặp trong y văn nước ngoài.

Với những phân tích nêu trên, việc sử dụng thay thế này sẽ không tạo ra sự khác biệt đáng kể về phạm vi sử dụng. Căn nguyên vi sinh Căn nguyên của viêm phần phụ được chia thành 3 nhóm chính, không loại trừ lẫn nhau: (1) các vi sinh vật lây truyền qua đường tình dục (Neisseria gonorrhoeae, Chlamydia trachomatis, Mycoplasma genitalium); (2) vi khuẩn liên quan đến viêm âm đạo do vi khuẩn (Bacterial vaginosis) (ví dụ: Prevotella bivia , Atopobium vae, Leptotrichia/Sneathia spp); và (3) vi khuẩn đường tiêu hóa hoặc đường hô hấp (ví dụ: vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn hiếu khí và tùy tiện như Haemophilus influenzae, Escherichia coli ) [41], [57], [66]. trachomatis là các căn nguyên đã được công nhận gây ra viêm phần phụ [66], [83]. gonorrhoeae và/hoặc C.

trachomatis được xác định ở đường sinh dục trên (UGT) của khoảng 1/4 - 1/3 số người tham gia trong các nghiên cứu mà viêm phần phụ được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng [57]. Tỷ lệ viêm phần phụ do N. gonorrhoeae ở từng khu vực là khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phổ biến của bệnh lậu trong cộng đồng. trachomatis là tác nhân vi khuẩn phổ biến nhất gây các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Viêm phần phụ do C. trachomatis có tỷ lệ hiện mắc ít thay đổi về mặt địa lý hơn so với viêm phần phụ do lậu cầu [44]. Ngoài ra, Mycoplasma genitalium cũng đã được báo cáo có mối liên quan với bệnh viêm phần phụ. Trong 1 phân tích gộp của 10 nghiên cứu về mối liên quan giữa M.genitalium và viêm phần phụ, M.genitalium làm tăng đáng kể nguy cơ mắc viêm phần phụ, với OR gộp = 2,14 (khoảng tin cậy 95%: 1,31-3,49) [53].

Tuy nhiên, vai trò của M. genitalium trong viêm phần phụ vẫn chưa thực sự rõ ràng và cần có thêm các nghiên cứu để tìm hiểu về vấn đề này [41]. Các tác nhân gây bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn, đặc biệt là các tác nhân kị khí cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh viêm phần phụ (ví dụ: Peptostreptococcus sp. hominis, Ureaplasma urealyticum, và Clostridia sp.

Một phân tích cụm về mối liên quan giữa vi khuẩn gây viêm âm đạo với bệnh viêm phần phụ đã cho thấy rằng các vi sinh vật này làm tăng nguy cơ phát triển viêm phần phụ [59]. Trong đó, vai trò của các vi khuẩn kỵ khí gây viêm âm đạo trong bệnh viêm phần phụ đang ngày càng trở nên rõ ràng. Bằng chứng cho thấy, sử dụng kháng sinh tác động lên các vi khuẩn kỵ khí trong điều trị viêm phần phụ giúp cải thiện hiệu quả điều trị [80]. Các vi khuẩn này được phân lập đơn lẻ hoặc cùng với N.

trachomatis trong vòi tử cung của phụ nữ bị viêm phần phụ cấp tính [31]. 4 Nhóm tác nhân thứ ba là các vi khuẩn thường gây bệnh đường hô hấp và đường ruột. Các sinh vật hiếu khí và tùy tiện như E. coli , Streptococcus spp, Staphylococcus spp, H.

influenzae từ đường tiêu hóa hoặc hô hấp cũng đã được phát hiện ở vòi tử cung của những phụ nữ có biểu hiện lâm sàng của viêm phần phụ [37], [40], [63]. Nghiên cứu của Haggerty và cộng sự báo cáo rằng E. coli được phát hiện ở 2% phụ nữ có triệu chứng lâm sàng của viêm phần phụ, trong khi N. gonorrhoeae là 13,4% và C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ