CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Do đó, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định. Khái niệm trên cho thấy phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được).
Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định, nếu mục đích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục đích hoặc nó không được sử dụng đúng. Tổng quan về phương pháp dạy tiếng Việt Theo Nguyễn Quang Ninh-Bùi Minh Toán [1 : 36-37] đã đưa ra quan niệm rằng “Phương pháp dạy tiếng Việt là một hệ thống lý thuyết thuộc phạm trù ngôn ngữ học ứng dụng. Khi nói đến phương pháp dạy tiếng cho người nước ngoài sẽ có nhiều phương pháp giảng dạy phổ biến trên thế giới được các giáo viên áp dụng.” Mỗi phương pháp ra đời sau đều kế thừa những ưu điểm và khắc phục những khuyết điểm của phương pháp ra đời trước đó. Các nhà ngôn ngữ cũng như các nhà giáo dục đều nhận thấy vai trò của việc lựa chọn lý thuyết nào để phù hợp nhất trong việc giảng dạy các ngoại ngữ nói chung và tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng.
Để đảm bảo cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tiếng cần tìm hiểu cấu trúc của hoạt động này. Cụ thể, các yếu tố tham gia vào quá trình này có thể hình dung như sau: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người học là người tiếp thu môn học còn người dạy phải tuân theo những nguyên tắc chung, sử dụng các phương pháp, thủ pháp nhất định nhằm đạt mục tiêu giáo dục, cho nên hoạt động này có tính chất “giáo dục”. Cả người dạy và người học đều có mối quan hệ với nhau qua một môn học nào đó, môn học này có tính chất “ngôn ngữ”. Trong khoa học giáo dục và lý luận dạy học bộ môn chưa có một định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất về thuật ngữ phương pháp dạy học.
Theo Nguyễn Quang Ninh-Bùi Minh Toán [1 : 36-37] đã đưa ra quan niệm cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức và kỹ năng, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực” Có quan niệm coi phương pháp dạy học là “những hình thức kết hợp hoạt động của giáo viên và học sinh hướng vào việc đạt mục tiêu nào”. Có thể nói tổng quan là “phương pháp dạy học tiếng Việt là cách thức làm việc của thầy giáo và học sinh nhằm làm cho học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành các kỹ năng và kỹ xảo tiếng Việt” 1. Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất (First Language or mother tongue) Theo Bloomfield, Leonard (1933), một nhà ngôn ngữ có tiếng đã đưa ra khái niệm về ngôn ngữ thứ nhất rằng ngôn ngữ thứ nhất là tiếng mẹ đẻ (mother tongue), là tiếng nói được sử dụng từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành mà trong xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó có thể không được giảng dạy chính thức trong trường học Theo Rungrudee Plaengsorn [31: 10-12] đã nói rằng “Đặc trưng của người nói tiếng mẹ đẻ của một ngôn ngữ là trực giác về những gì họ có trong ngôn ngữ của họ nhạy bén hơn những người khác không thể nói được tiếng mẹ đẻ ví dụ : Với trẻ em ở Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất.” Theo Khanungnid Chanthurat [27: 7-8] đã giải thích đặc điểm của ngôn ngữ thứ nhất hay tiếng mẹ đẻ là “người bản ngữ (Native Speaker) có kiến thức về ngôn ngữ của mình và có khả năng sử dụng ngôn ngữ của mình tốt nhưng người bản ngữ có lẽ không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể giải thích được về cách học tiếng mẹ đẻ như thế nào vì người học đã được học tiếng mẹ đẻ từ khi còn nhỏ hay là tương đương với tuổi tác của người học. Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language) Theo Rungrudee Plaengsorn [31: 10-12] đã đưa ra “Ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ được học đứng ở vị trí thứ hai sau khi đã được học ngôn ngữ thứ nhất.” Một số nước sử dụng ngôn ngữ thứ hai và ngôn ngữ này đóng vai trò rất quan trọng và được sử dụng tương đương như ngôn ngữ chính như: tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai ở Malaysia, Philippin và là ngôn ngữ chính thức của giới công chức trong nước hay một số nước có nhiều ngôn ngữ địa phương vậy nên phải có ngôn ngữ chính để giao tiếp trong nước.
Ngoài Maylaysia và Philippin còn có Ấn Độ là quốc gia xác định lấy tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Theo Stephen Krashen (1988) đã nói rằng “Ngôn ngữ thứ hai đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày và giao tiếp xã hội. Người trong xã hội đó cần phải sử dụng ngôn ngữ thứ hai như là người bản xứ vì có thể sẽ sử dụng nhiều hơn cả ngôn ngữ thứ nhất.” Đối với người ngoại quốc, nếu sống hẳn ở Việt Nam, tiếng Việt sẽ là ngôn ngữ thứ hai, nếu chỉ ở Việt Nam một thời gian ngắn cũng như nếu chỉ học tiếng Việt ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, tiếng Việt được coi là một ngoại ngữ. Đối với người nước ngoài khi học một ngoại ngữ thì ngoại ngữ đó vẫn được gọi là ngôn ngữ thứ hai.
Ở một số nước sử dụng đa ngôn ngữ, ngôn ngữ phổ thông được gọi là ngôn ngữ thứ nhất, còn ngôn ngữ của một cộng đồng được gọi là ngôn ngữ thứ hai, ví dụ : ở Pháp, tiếng Pháp là ngôn ngữ thứ nhất, tiếng Anh của cộng đồng người Anh ở Pháp là ngôn ngữ thứ hai ; ở Úc , tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, các ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc còn lại được gọi là ngôn ngữ thứ hai (Languages other than English - LOTE) 1. Lý thuyết nhận thức ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ. Rungrudee Plaengsorn [31 : 12] đã nói rằng “Con người đều có cơ thể và bộ não bình thường nhằm tương tác với mọi người xung quanh, con người có thể dễ dàng học ngôn ngữ bản địa hoặc tiếng mẹ đẻ một cách dễ dàng.” Tuy nhiên, việc học ngôn ngữ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thứ hai hoặc ngoại ngữ có lẽ không dễ dàng như cách học tập tiếng mẹ đẻ bởi có nhiều nhân tố quan trọng về tuổi tác và tính cách ảnh hưởng đến cách tiếp nhận ngôn ngữ. Có thể nói rằng người học trẻ tuổi sẽ có khả năng học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ nhanh hơn người học lớn tuổi.
Ngoài ra tính cách của người học ngoại ngữ sẽ quyết định năng suất của việc học, những người tự tin, chăm chỉ sẽ đạt hiệu quả hơn so với người học không tự tin. Rungrudee Plaengsorn [31 : 12] đã nói tớ lý thuyết học về ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ được biết đến nhiều nhất và có ảnh hưởng mạnh nhất là lý thuyết của “Stephen Krashen” rằng. “Ông đã đưa ra 5 giả thuyết về cách học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ là” (1) Giả thuyết về việc học tập và nhận thức ngôn ngữ. (2) Giả thuyết về quá trình học ngôn ngữ với một cách tự nhiên.
(3) Giả thuyết về cơ chế kiểm tra ngôn ngữ. (4) Giả thuyết về việc nhận thức dữ liệu ngôn ngữ. (5) Giả thuyết về sự khác biệt giữa tâm lý và thái độ. Giả thuyết về việc học tập và việc nhận thức ngôn ngữ (The Acquisition Learning Hypothesis) Khái niệm giả định này là quá trình học tập ngôn ngữ thứ hai của con người.
Giả định được chia làm hai cách thức đó là việc nhận thức ngôn ngữ (Language Acquistion) và việc học tập ngôn ngữ (Language Learning). Việc nhận thức ngôn ngữ là một quá trình học tập ngôn ngữ tương tự với việc học tập tiếng mẹ đẻ. Ngôn ngữ đi vào tiềm thức của người học một cách tự nhiên (Subconscious) qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày. Cách học này làm cho người học thường không biết là mình đã học về quy tắc của ngôn ngữ nhưng người học cảm nhận được về việc sử dụng đúng hay sai ngôn ngữ, cách học này là một quá trình học ngôn ngữ như một cách phản xạ tự nhiên.
Giả thuyết về quá trình học ngôn ngữ với một cách tự nhiên. (The natural Order Hypothesis) 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm giả thuyết này nói rằng đây là một quá trình học tập theo các bước quy tắc tự nhiên, bất cứ là người lớn tuổi hay người trẻ tuổi khi được học ngôn ngữ thứ hai, ngoại ngữ hay tiếng mẹ đẻ thì người học phải học các quy tắc sử dụng những nguyên âm đôi trước mới bắt đầu viết được đúng từ. Tuy nhiên, trong quá trình dạy và học, người dạy sẽ đạt được hiệu quả tốt nếu bắt đầu dạy theo các bước nhận thức những quy tắc tự nhiên từ dễ đến khó. Giả thuyết về cơ chế kiểm tra ngôn ngữ.
(The monitor Hypothesis) Khái niệm của giả thuyết này nói rằng việc nhận thức ngôn ngữ (Acquisition) và việc học tập ngôn ngữ (Learning) là hai phạm trù đều được sử dụng để có thể thu được những lợi ích khác nhau. Việc nhận thức ngôn ngữ khiến cho người học có thể sử dụng ngôn ngữ rất thành thạo để giao tiếp trong tình huống thực tế còn việc học tập ngôn ngữ nhằm mục đích để kiểm tra độ chính xác của ngôn ngữ. Tuy nhiên những quy tắc của ngôn ngữ thường không giúp cho người học nói thành thạo nhưng nó đóng vai trò kiểm tra độ chính xác theo quy tắc của ngôn ngữ. Việc kiểm tra ngôn ngữ thường có 3 điều kiện như sau: (1) Người sử dùng ngôn ngữ phải có đủ thời gian.
Trong quá trình giao tiếp thực tế, người học thường không đủ thời gian để kiểm tra độ chính xác của ngôn ngữ bởi việc này sẽ khiến cho người nói nói chậm hơn, nói không thành thạo và giao tiếp bất tự nhiên. (2) Người sử dụng ngôn ngữ phải luôn luôn nghĩ đến độ chính xác hay hình thức của ngôn ngữ đã được học. Trong quá trình giao tiếp hằng ngày, người nói sẽ quan tâm đến nội dung nói hơn hình thức chính xác của ngôn ngữ.