Thực trạng cung cấp dịch vụ CSSK ban đầu tại trạm y tế Gia Lai và yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các trạm y tế Gia Lai năm 2021, phân tích yếu tố ảnh hưởng và khó khăn.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2022

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Trạng Cung Cấp Dịch Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu Tại Gia Lai 2021

Nghiên cứu được thực hiện trên 222 trạm y tế xã/phường tại tỉnh Gia Lai trong giai đoạn từ tháng 10/2020 đến tháng 10/2021 nhằm mô tả sự sẵn có của 17 dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả cho thấy có 92,8% trạm y tế xã đạt chuẩn Quốc gia theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 07/11/2014. Tuy nhiên, chỉ có 40,8% trạm y tế đạt chuẩn có khả năng thực hiện đủ 17 dịch vụ CSSKBĐ. Phân bố địa lý cho thấy 82,4% trạm y tế thuộc khu vực nông thôn17,6% thuộc khu vực thành thị, phản ánh sự phân mảnh trong cung cấp dịch vụ y tế cơ sở tại các địa phương.

1.1. Đặc Điểm Của Các Trạm Y Tế Xã Phường Gia Lai

Các trạm y tế xã/phường trên địa bàn tỉnh Gia Lai có đặc điểm đa dạng về vị trí địa lý và cơ sở vật chất. Phần lớn các trạm nằm ở khu vực nông thôn, gặp khó khăn về hạ tầng và nguồn nhân lực. Mặc dù đã đạt chuẩn Quốc gia, nhưng năng lực thực hiện dịch vụ còn hạn chế, đặc biệt trong các dịch vụ chuyên biệt như phục hồi chức năngchăm sóc sức khỏe tại nhà.

1.2. Kết Quả Đánh Giá Năng Lực Thực Hiện Dịch Vụ

Trong số 222 trạm y tế, chỉ có 84 trạm (40,8%) có khả năng thực hiện đủ 17 dịch vụ CSSKBĐ. Dịch vụ bảo đảm máu an toàn đạt tỷ lệ cao nhất với 96,4%, trong khi các dịch vụ như khám quản lý sức khỏe cá nhânphục hồi chức năng chỉ được thực hiện tại dưới 50% trạm y tế.

II. Thực Trạng Thực Hiện Các Dịch Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu

Phân tích chi tiết 13 dịch vụ được thực hiện tại trên 50% trạm y tế cho thấy sự không đồng đều trong cung cấp dịch vụ CSSKBĐ. Dịch vụ phòng chống bệnh về máu đạt tỷ lệ cao nhất, trong khi các dịch vụ chuyên biệt hơn như khám quản lý sức khỏe cá nhân, phục hồi chức năng cho người khuyết tật, chăm sóc sức khỏe tại nhà chỉ được thực hiện tại dưới 50% trạm y tế. Tình trạng này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa các trạm y tế trong khả năng cung cấp các dịch vụ phức tạp hơn. Nguyên nhân chính bao gồm thiếu hụt nhân lực, thiếu trang thiết bị và kinh phí hoạt động.

2.1. Các Dịch Vụ Được Thực Hiện Rộng Rãi

13 dịch vụ CSSKBĐ được thực hiện tại trên 50% trạm y tế, bao gồm dịch vụ khám sàng lọc bệnh tật, tiêm chủng, khám chữa bệnh cơ bản, và quản lý bệnh mãn tính. Những dịch vụ này tương đối dễ triển khai do yêu cầu kỹ thuật thấp hơn và đội ngũ nhân viên y tế phổ thông có thể thực hiện được.

2.2. Các Dịch Vụ Kém Phổ Biến Tại Trạm Y Tế

4 dịch vụ được thực hiện dưới 50% trạm y tế gồm: khám quản lý sức khỏe cá nhân, phục hồi chức năng cho người khuyết tật, chăm sóc sức khỏe tại nhà, và khám sàng lọc các bệnh tật. Những dịch vụ này yêu cầu kỹ năng chuyên biệt, kiến thức sâu rộng và thường không được ưu tiên đầu tư tại cấp xã/phường.

III. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Thực Hiện Dịch Vụ CSSKBĐ

Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thực hiện 17 dịch vụ CSSKBĐ tại các trạm y tế xã/phường Gia Lai. Các yếu tố này bao gồm: thiếu nhân lực y tế, trang thiết bị y tế không đầy đủ, nguồn tài chính hạn chế, kiến thức và kỹ năng nhân viên chưa đạt yêu cầu, và sự thay đổi định hướng chính sách y tế. Ngoài ra, vị trí địa lý hẻo lánh, khó khăn trong giao thông, và đặc điểm dân cư cũng tác động không nhỏ đến năng lực cung cấp dịch vụ. Sự kết hợp của các yếu tố này tạo thành những thách thức lớn trong việc đảm bảo chất lượng và phạm vi dịch vụ CSSKBĐ.

3.1. Yếu Tố Nhân Lực Và Trang Thiết Bị

Thiếu nhân lực y tếyếu tố quyết định ảnh hưởng đến khả năng thực hiện dịch vụ. Hầu hết trạm y tế xã chỉ có 1-2 nhân viên y tế không đủ để thực hiện tất cả các dịch vụ. Thêm vào đó, thiếu trang thiết bị y tế, hệ thống xử lý nước thải, phòng khám riêng biệt cản trở đáng kể việc triển khai dịch vụ CSSKBĐ theo tiêu chuẩn.

3.2. Yếu Tố Kinh Tế Và Chính Sách

Nguồn tài chính hạn chế làm khó khăn cho việc đầu tư trang thiết bịđào tạo nâng cao kỹ năng. Sự thay đổi trong định hướng chính sách y tếchương trình quốc gia cũng ảnh hưởng đến ưu tiên đầu tư tại các trạm y tế cấp xã/phường ở tỉnh Gia Lai.

IV. Những Khó Khăn Hạn Chế Và Giải Pháp Khắc Phục

Để cải thiện thực trạng cung cấp dịch vụ CSSKBĐ tại các trạm y tế xã/phường Gia Lai, cần phải nhận diện rõ những khó khăn và hạn chế hiện tại. Các khó khăn chính bao gồm: thiếu nhân lực và đào tạo, thiếu tài chính, trang thiết bị lạc hậu, khoảng cách địa lýkhó khăn trong giao thông. Để khắc phục những vấn đề này, cần có chiến lược toàn diện bao gồm: tăng cường đầu tư nhân lực, cấp kinh phí thường xuyên, nâng cấp trang thiết bị, xây dựng hệ thống hỗ trợ kỹ thuật từ trung tâm y tế huyện, và tăng cường giám sát, đánh giá định kỳ. Những giải pháp này sẽ giúp cải thiện chất lượng CSSKBĐbảo vệ sức khỏe cộng đồng.

4.1. Những Khó Khăn Chính Trong Thực Hiện CSSKBĐ

Khó khăn lớn nhấtthiếu nhân lực và kiến thức y tế. Nhiều trạm y tế không đủ cán bộ để phục vụ toàn bộ 17 dịch vụ CSSKBĐ. Thêm vào đó, trang thiết bị cũ kỹ, không đủ tiêu chuẩn, kinh phí hoạt động thiếu hụt, và vị trí địa lý hẻo lánh là những rào cản không nhỏ đến chất lượng dịch vụ.

4.2. Giải Pháp Cải Thiện Thực Hiện Dịch Vụ CSSKBĐ

Cần tăng cường đầu tư nhân lực thông qua đào tạo định kỳ, hỗ trợ kỹ thuật từ huyện. Đồng thời, bảo đảm kinh phí hoạt động ổn định, nâng cấp trang thiết bị y tế, phát triển mô hình hỗ trợ từ xa, và tăng cường giám sát, đánh giá để đảm bảo chất lượng CSSKBĐ tại các trạm y tế xã/phường ở Gia Lai.

20/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính Hộ gia đình là những người ở cùng một nhà và ăn cùng mâm từ 3 tháng trở lên (58). Dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) do Trạm Y tế (TYT) xã cung cấp: là những dịch vụ mà TYT xã chịu trách nhiệm và có khả năng cung cấp cho người dân theo quy định của pháp luật. Trong khuôn khổ nghiên cứu, các dịch vụ này bao gồm dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tiêm chủng mở rộng, truyền thông giáo dục sức khỏe.

Hệ thống là khái niệm để chỉ những chỉnh thể là những sự vật hiện tượng có cấu trúc thống nhất, hoàn chỉnh được sắp xếp theo những nguyên tắc, những mối liên hệ nhất định đồng thời chịu sự chi phối của một số quy luật chung. Hệ thống y tế là một hệ thống các niềm tin về khía cạnh văn hóa về sức khỏe và những hành động để duy trì sức khỏe, kiểm soát bệnh tật được sắp xếp theo một thể chế về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Y tế cơ sở (YTCS) Theo Tổ chức Y tế thế giới hệ thống YTCS dựa trên chăm sóc sức khỏe ban đầu là hệ thống bao gồm một tập hợp những hoạt động có mối liên quan với nhau, góp phần chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng, xã hội các ban ngành có liên quan. Tuyến YTCS có các cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế, có thể thuộc chính phủ hay phi chính phủ, cùng với các bệnh viện tuyến quận, huyện và những dịch vụ hỗ trợ thích hợp như chẩn đoán và hậu cần, xét nghiệm.

Hệ thống này có thể phát huy hiệu quả cao nhất nếu nó gắn với việc đào tạo một cách thích đáng đội ngũ cán bộ y tế nhằm hướng tới một phạm vi toàn diện nhất có thể ở nhiều lĩnh vực hoạt động CSSK như nâng cao sức khỏe, phòng ngừa, điều trị và phục hồi chức năng (42). Khái niệm và vai trò quan trọng của mạng lưới này cũng đã được nêu rõ trong Chỉ thị 06-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 22/01/2002: “Mạng lưới YTCS (bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được CSSK cơ 5 bản với chi phí thấp nhất, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự, an toàn xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân với chế độ XHCN (30),(16). Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những chăm sóc y tế cơ bản thiết yếu dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn được xã hội, mọi người trong cộng đồng chấp nhận, sự tham gia đầy đủ của cộng đồng với mức chi phí mà cộng đồng và Nhà nước có thể trang trải được, có thể duy trì được ở bất cứ mức phát triển nào với tinh thần tự lo liệu, tự quyết định. Một số nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe ban đầu 1.

Trên thế giới Hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Lebanon ra đời vào năm 1972. Kể từ đó đã có những tiến bộ đáng kể về y tế công và tư nhân, thể hiện rõ qua sự gia tăng và mở rộng ngày càng lớn của CSSKBĐ trên khắp vùng Liban. Có 755 trong số 1247 cơ sở cung cấp dịch vụ CSSKBĐ tham gia nghiên cứu (tỷ lệ 60,5%). Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 2/5 NVYT có khả năng bỏ việc trong vòng 1-3 năm tới, những NVYT có trình độ chuyên môn chuyên sâu và nhiều kinh nghiệm sẽ ít bỏ việc hơn.

Khi được hỏi về lý do chọn làm việc tại trung tâm CSSKBĐ thì câu trả lời nhiều nhất là: tính chất công việc, lợi ích tiềm năng cho gia đình, gần nhà (29). Nghiên cứu của Cathy Schoen và cộng sự năm 2009 cho thấy bác sĩ dành thời gian tư vấn, hướng dẫn điều trị bệnh cho bệnh nhân, chế độ luyện tập, ăn uống có hiệu quả trong việc chăm sóc người bệnh. Có thể thấy việc tư vấn sức khỏe có vai trò quan trọng trong việc CSSKBĐ (8). 6 “Nguồn: Schoen C, Osborn R, at al” 120% 98% 98% 100% 91% 88% 88% 80% 73% 59% 60% 52% 40% 20% 11% 0% Tư vấn sức khỏe Thụy Sỹ Na Uy Anh Hà Lan New Zealand Úc Canada Mỹ Pháp Biểu đồ 1.

Tỷ lệ tư vấn sức khỏe ngoài giờ của bác sĩ, y tá ở các nước Một nghiên cứu tại Ghana vào năm 2013 cho thấy chỉ có 56% trung tâm y tế có nhân viên tham gia hoạt động TTGDSK tại gia đình, trường học, nhà thờ. Chỉ có 11% Trung tâm Y tế có các thiết bị như máy đo chức năng, bình oxy, máy phun sương. Những thuốc thiết yếu có sẵn tại TTYT còn thấp hoặc không có như adrenalin 44.4%, Insulin 0%,…Tất cả các cơ sở các tuyến đều ít nhất một lần tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân. Tình trạng thiếu năng lực của các cơ sở CSSKBĐ có liên quan đến kiểm soát bệnh không lây nhiễm, nhân lực không đủ cũng là một trở ngại lớn (34).

Nghiên cứu của K.Odom Walker khảo sát các yếu tố tác động đến bác sĩ làm việc tại cơ sở CSSKBĐ. Có 42 bác sĩ tham gia phỏng vấn sâu, kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 lý do để ở lại làm việc tại cơ sở hiện tại: động lực cá nhân, động lực nghề nghiệp, hỗ trợ cơ sở. Tác giả nhận định những yếu tố như lối sống, giờ làm việc quan trọng đối với bác sĩ nó là nguyên nhân khiến các bác sĩ đã nghỉ việc hoặc từng có ý định nghỉ việc. Các cơ sở y tế phải phát triển các chính sách phân bổ thời gian làm việc hợp lý, bổ sung những phúc lợi và có mức lương cạnh tranh hơn (22).

Tại Việt Nam Theo nghiên cứu của Phạm Quang Hải được triển khai trên 421 hộ gia đình, có 66.2% đối tượng nhận được thông tin về CSSKBĐ trong 30 ngày qua, nhu cầu về thông tin sức khỏe ở những hộ có kinh tế khá giả cao hơn những gia đình kinh tế khó khăn, các đối tượng tiếp xúc với thông tin sức khỏe chủ yếu qua loa phát thanh của xã/phường/thị trấn (87. Tỷ lệ đối tượng từng đến KCB (khám, chữa bệnh) tại TYT xã đạt 96.6% tỷ lệ đối tượng mong muốn TYT cần đầu tư những trang thiết bị hiện đại hơn (15). Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài An tại Thanh Hóa cho thấy có 87.5% cán bộ y tế có trình độ trung cấp, mỗi TYT thường chỉ có 1 cán bộ trình độ đại học tương đương 12.7% hộ gia đình được phỏng vấn cho rằng chưa tốt, 2.8% cho rằng không tốt. Nguồn lực của TYT nơi đây vẫn còn nhiều hạn chế cả chất lượng lẫn số lượng, trong khi đó khối lượng công việc nhiều như KCB, truyền thông, báo cáo,…do vậy rất khó để thực hiện và đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật của BYT (12).

Nghiên cứu của Phạm Quang Hòa đánh giá khả năng thực hiện các kỹ thuật của TYT tại Thái Bình năm 2012: hồi sức cấp cứu chống độc đạt 69.6%, kỹ thuật nhi khoa đạt 64.1%, răng hàm mặt 36.9%, da liễu đạt 12. Nghiên cứu của Trần An Chung tại Long An năm 2018 cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức về chức năng của TYT, cán bộ có trình độ đại học và sau đại học có kiến thức cao hơn đối tượng cao đẳng, trung cấp (OR=1. Những đối tượng có độ tuổi, thâm niên công tác càng cao thì càng có kiến thức, thực hành đúng về CSSKBĐ (9). Mỗi bậc học sẽ tiếp cận với nguồn và khối lượng kiến thức khác nhau, càng học lên cao và chuyên sâu sẽ có được nhiều kiến thức hơn.

Những đối tượng thâm niên công tác làm lâu năm sẽ tích được nhiều kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Truyền thông giáo dục sức khỏe là một trong những nội dung quan trọng của CSSKBĐ. Theo nghiên cứu của Trần Hữu Lộc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2016 tại các cơ sở y tế tuyến huyện cho thấy tư vấn sức khỏe chiếm 86.67% trong các dịch vụ truyền thông giáo dục sức khỏe (26). 8 Theo một nghiên cứu về khảo sát sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế tuyến cơ sở, Nghiên cứu của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Điện Biên năm 2014, truyền thông là dịch vụ mà người dân sử dụng thấp nhất, điều này cho thấy vấn đề truyền thông và tiếp nhận thông tin của người dân còn nhiều mặt hạn chế, cần quan tâm hơn nữa đến công tác TTGDSK (7).

Phần lớn các nghiên cứu cho thấy công tác CSSKBĐ ở tuyến y tế cơ sở đã và đang phát triển, đạt được nhiều thành tựu kể từ sau Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978. Tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót, kiến thức về nguyên lý CSSKBĐ, kỹ năng thực hành tư vấn sức khỏe và đặc biệt là công tác TTGDSK ở nhiều nơi còn hạn chế. Quy định liên quan đến triển khai chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam Xây dựng và ban hành các chính sách, chiến lược các văn bản quy phạm pháp luật là chức năng quan trọng nhất của công tác quản lý Nhà nước. Một số chính sách, văn bản được ban hành có liên quan đến công tác CSSKBĐ như: Nhiều nước trên thế giới cũng đã ủng hộ và triển khai thực hiện các hoạt động CSSKBĐ sau khi tuyên ngôn Alma Ata ra đời.

Với những lý do phù hợp đường lối, chính sách CSSK của Đảng và nhân dân nên nước ta đã ban hành mười nội dung của chăm sóc sức khỏe ban đầu (70). Ngày 07 tháng 4 năm 1988 Bộ Y tế Quyết định số 293/BYT/QĐ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chăm sóc sức khoẻ ban đầu của ngành Y tế (71). Mạng lưới y tế cơ sở đã dần được phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Quyết định 3447QĐ-BYT của BYT đã được ban hành gồm 10 tiêu chí, 50 chỉ tiêu.

Quyết định 4667/QĐ-BYT năm 2014 của BYT cũng đã được ban hành 10 tiêu chí và 46 chỉ tiêu của bộ tiêu chí quốc gia về TYT xã. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết 20/NQ-TW ngày 25/10/2017 về công tác CSSK, nâng cao sức khỏe. Thủ tướng Chính phủ đề án phát triển y tế, xây dựng cơ sở vào tháng 12/2016: + Đến năm 2020: Số TYT được khám, chữa bệnh sử dụng BHYT là hơn 90%, danh mục kỹ thuật ở TYT xã là 80%; 80% danh mục dịch vụ kỹ thuật của tuyến huyện được thực hiện bởi 95% TTYT huyện; về tiêu chí TYT xã có 70% đạt được; phấn 9 đấu 90% dân số được quản lý sức khỏe, đặc biệt là những địa phương có kinh tế khó khăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ