Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về Sức khỏe Hơn 70 năm (1948), Tổ chức Y tế Thế giới đã định nghĩa về “sức khỏe chính là trạng thái mà con người cảm thấy thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không phải chỉ bao gồm mỗi tình trạng không có bệnh hay là thương tật”. Đối với xã hội hiện nay, sức khỏe được nhìn nhận với rất nhiều khía cạnh khác nhau: thể chất, tinh thần/ cảm xúc, môi trường, xã hội, kinh tế và một số cách nhìn nhận gần đây của con người đã đặt sức khỏe với cái nhàn đa chiều hơn (ví dụ như ở góc độ tâm linh, thể chất chính trị và hướng nghiệp…). Chính sự đa dạng góc nhìn về vấn đề tưởng cũ mà mới này là chìa khóa xây dựng chế độ chăm sóc con người một cách toàn diện [15].
Khái niệm về Giáo dục sức khỏe GDSK là quá trình truyền thông cung cấp thông tin, giúp đỡ động viên tạo điều kiện để người bệnh hiểu được vấn đề sức khỏe và chọn được cách giải quyết thích hợp nhất vấn đề của họ [16]. Là quá trình tác động có mục đích và có kế hoạch đến người bệnh, giúp người bệnh thay đổi hành vi có lợi cho sức khỏe, thay đổi thái độ, chấp nhận và duy trì. GDSK không chỉ cung cấp thông tin về sức khỏe của người bệnh mà còn là quá trình cung cấp kiến thức, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi lành mạnh với sức khỏe của bản thân [17]. Mục đích GDSK và tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh Những năm gần đây, vai trò của GDSK càng có vị trí rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những chăm sóc sức khỏe thiết yếu, là trách nhiệm của các cán bộ y tế, các cơ sở y tế và cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng dựa trên thực tế và khoa học [18]. 6 Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, GDSK giữ vị trí quan trọng bậc nhất, bởi vì nó tạo điều kiện để chuẩn bị, thực hiện và củng cố kết quả các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác, là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe. Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người bệnh, nếu giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển, tăng cường hiệu quả dịch vụ Y tế [16]. Mục đích của GDSK là làm cho người bệnh từ bỏ các hành vi có hại và thực hành có hành vi có lợi cho sức khỏe của họ, thay đổi thái độ, kiến thức và thực hành của người bệnh để người bệnh hiểu rõ hơn về vấn đề bệnh tật để từ đó nhận ra các vấn đề sức khỏe liên quan đến chính bản thân, mỗi gia đình, xã hội và cộng đồng.
Để có được những kết quả tốt mà GDSK mang lại thì đây sẽ là cả một quá trình cần phải tiến hành theo kế hoạch, có sự đầu tư tài lực, vật lực, nhân lực thích đáng, hết sức kiên trì và kết hợp với nhiều phương pháp khác nhau thì mới đem lại kết quả cao [17] [21]. Phương pháp phương tiện GDSK Có hai loại phương pháp GDSK là trực tiếp và gián tiếp để người GDSK thực hiện một chương trình GDSK. Các phương tiện GDSK là công cụ để ĐD sử dụng để thực hiện một phương pháp GDSK và qua đó truyền tải nội dung GDSK tới NB. Khi thực hiện GDSK thì có thể liên kết hai phương pháp với nhau rất có hiệu quả.
GDSK trực tiếp là phương pháp mà ĐD là người trực tiếp tiếp xúc với người bệnh, đòi hỏi người ĐD cần được đào tạo tốt về kiến thức lâm sàng về kỹ năng giao tiếp và nhận được các thông tin phản hồi trực tiếp từ người bệnh nên tính điều chỉnh cao trong phương pháp này. Bằng các phương thức tổ chức các buổi GDSK trực tiếp cho người nhà và người bệnh, tổ chức các buổi tư vấn dinh dưỡng, qua các hoạt động chăm sóc của ĐD tại giường bệnh [23]. GDSK gián tiếp là phương pháp mà ĐD là phương thức không tiếp xúc trực tiếp với NB và người nhà NB. Phương pháp này có tác dụng rất tốt khi chúng ta cần cung cấp truyền bá các kiến thức thông thường để nâng cao sức khỏe cho NB một cách hệ thống, các nội dung truyền tải thông qua các phương tiện thông 7 tin đại chúng như áp phích, tờ quảng cáo, tivi, đài phát thanh, video, tranh lật, sách, tờ rơi, bảng thông tin,.
Nội dung GDSK TT-GDSK không chỉ quan trọng với cá nhân mà còn cho cả một tập thể, cộng đồng và cho cả người ốm và người khỏe. Chúng ta phải biết chọn lựa nội dung GDSK phai đáp ứng các vấn đề sức khỏe ưu tiên phù hợp với cá nhân, gia đình và cộng đồng. Nội dung GDSK cần phải đảm bảo tính khoa học, thực tiễn. Cần trình bày rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và trình bày theo thứ tự hợp lý.
Nội dung cần chuyển tải đến đối tượng cần phù hợp với nhu cầu và khả năng tiếp thu của đối tượng bằng các hình thức hấp dẫn [25]. Kỹ năng GDSK Để có được một kế hoạch GDSK tốt nhất cho NB thì người ĐD cần phải có những kỹ năng truyền thông-GDSK cơ bản như: - Kiến thức về Y học - Kiến thức về tâm lý học - Kiến thức về những hành vi - Kiến thức về giáo dục học và giáo dục y học - Các hiểu biết về nền văn hóa địa phương, dân tộc - Những hiểu biết về thời sự, chính trị, xã hội Ngoài ra để có được một chương trình GDSK đạt hiệu quả cao người ĐD cũng cần phải biết chọn đúng thời điểm để GDSK, chọn địa điểm thuận lợi cho NB để tiến hành GDSK, người ĐD cũng cần phải biết lôi kéo cộng đồng tham gia vào công tác tư vấn GDSK và cần phải biết sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng tại đại phương nơi tổ chức GDSK. Trong thực tế chúng ta thường thấy rằng kết quả của việc GDSK sẽ khác nhau tùy vào từng NB. Đó là do việc kỹ năng truyền thông – GDSK của mỗi cán bộ nhân viên y tế là khác nhau.
Nên để công tác truyền thông – GDSK có hiệu quả tốt thì người cán bộ nhân viên y tế cần trau dồi, học tập rèn huyện các kỹ năng như: - Nói: Trong khi nói chúng ta cần phải sử dụng những ngôn từ dễ nhớ, dễ làm, cần phải quan tâm đến việc nói gì, âm lượng, tốc độ cần phải phù hợp, nói đúng lúc, 8 đúng chỗ và cần phải thống nhất ngôn từ. Không nên sử dụng những ngôn từ cầu kỳ, khó hiểu, dài dòng, hoa mỹ. - Hỏi: Khi hỏi chúng ta sẽ nắm được những thông tin phản hồi quan rọng từ NB, hướng dẫn theo ý tưởng, lời khuyên, hành động,. Câu hỏi cần phải rõ ràng, cụ thể, cần thể hiện đúng những điều cơ bản: Cái gì, ở đâu, ai và như thế nào? Và đặc biệt là cần tỏ thái độ đúng khi hỏi.
Nghe: Chúng ta nghe để có được thông tin đúng, để có được thông tin phản hồi để biết thông tin truyền đạt có được hiểu đúng không, nghe để có nhiều thêm thông tin và ý tưởng, giảm nguy cơ bị mất thông tin, khuyên khích người được truyền thông tin nói với chúng ta nhiều hơn. - Quan sát: Giống như nghe, chúng ta sử dụng mắt để thu thập thông tin, bằng quan sát thì người truyền thông tin GDSK có thể thấy được người nhận thông tin có đúng không, liệu người nhận thông tin có yêu cầu cung cấp thêm thông tin hay không và liệu có sãn sàn g hành động hay không. Quan sát cũng giúp ta thấy người được truyền thông tin có hiểu rõ về vấn đề và có cần sự giúp đỡ hay không. - Hiểu: Là người truyền thông có hiểu truyền thông tin GDSK bằng ngôn từ của họ và suy nghĩ của họ.
Họ cần hiểu rõ điều mà họ mong muốn là gì, cần làm gì, khi nào, ở đâu, làm như thế nào,. Và nếu còn nghi ngờ cần phải hỏi thêm cho rõ. - Thuyết phục: Cần làm cho NB tin tưởng vào những thông tin GDSK của mình là chính xác. Thông thường người ta sẽ có khuynh hướng đáp ứng yêu cầu tốt hơn theo hướng các lý do về tình cảm hơn là chỉ thuyết phục đơn thuần nên vì thế chúng ta cần sử dụng tình cảm đúng đắn trong thuyết phục để GDSK có hiệu quả tốt hơn.
Thực trạng GDSK của điều dưỡng tại Việt Nam Ở Việt Nam hiện tại cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề thực trạng GDSK của Điều Dưỡng tại một số bệnh viện khác nhau. Nghiên cứu của Nguyễn Tất Thắng và Trần Như Nguyên tại Bệnh viện K năm 2021 về kiến thức truyền thông Giáo dục sức khỏe cho thấy kiến thức và kỹ năng về truyền thông giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng đạt mức khá với tỷ lệ lần lượt là 85,9% và 78,1%. Nhóm điều dưỡng viên đã được tham gia đào tạo tập huấn về truyền thông giáo dục sức khỏe có kiến thức đạt gấp 5,1 lần so với nhóm điều dưỡng viên chưa được đào tạo, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,005. Yếu tố giới, khối ngoại và xạ 9 trị, thâm niên công tác có liên quan đến kỹ năng về giáo dục súc khỏe của điều dưỡng với p < 0,05[24].
Mô tả kiến thức giáo dục sức khỏe của điều dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2022. Về đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Là nghiên cứu dựa trên phương pháp mô tả cắt ngang, thực hiện trên 170 điều dưỡng viên đang làm việc tại 11 khoa lâm sàng của bệnh viện bệnh viện Nội tiết Trung ương từ tháng 11/2021 đến tháng 7/2022. Bộ công cụ phỏng vấn đã được thiết kế và dựa trên các nội dung về các kỹ năng giáo dục sức khỏe với hệ số là Cronbach’s alpha = 0,816. Kết quả: 64,1% điều dưỡng có kiến thức đạt trong đó kiến thức về các kỹ năng làm quen, lắng nghe, quan sát chiếm tỷ lệ khá cao.
Các nhóm yếu tố liên quan đến kiến thức giáo dục sức khỏe cho người bệnh gồm có: Nhóm tuổi, thời gian công tác, tập huấn đào tạo về giáo dục sức khỏe. Về kết luận: Kiến thức về giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên duy trì ở mức khá.