Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công tác tư vấn và giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người bệnh là một trong những chức năng chuyên môn trọng yếu của nhân viên y tế nói chung và đội ngũ điều dưỡng nói riêng. Bản chất của GDSK là quá trình can thiệp có mục đích, có kế hoạch nhằm nâng cao kiến thức, biến đổi thái độ và thúc đẩy hành vi tích cực của người bệnh, giúp họ chủ động tham gia tự chăm sóc, phòng ngừa biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tại Việt Nam, tầm quan trọng của hoạt động này đã được thể chế hóa qua nhiều chủ trương, chính sách; nổi bật là Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, cùng Thông tư số 31/2021/TT-BYT ngày 28/12/2021 của Bộ Y tế quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện, trong đó chỉ rõ người bệnh nội trú phải được điều dưỡng tư vấn, hướng dẫn GDSK phù hợp với tình trạng bệnh lý trong suốt quá trình điều trị và khi xuất viện.
Tuy nhiên, trong thực tiễn lâm sàng, đặc biệt tại khối Nội tổng hợp và chuyên khoa – nơi tập trung nhiều bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính đòi hỏi quá trình theo dõi lâu dài và chế độ tự chăm sóc khắt khe – hoạt động tư vấn GDSK vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống. Các đánh giá công tác điều dưỡng định kỳ năm 2021 tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (bệnh viện hạng I tuyến đầu của thành phố Hà Nội) cho thấy hoạt động tư vấn GDSK của điều dưỡng cho người bệnh đôi lúc còn mang tính hình thức, chưa thực sự đồng đều và toàn diện. Nhằm cung cấp bằng chứng thực tiễn phục vụ quản lý và nâng cao chất lượng chăm sóc, đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành Điều dưỡng của tác giả Mai Ngọc Anh được thực hiện nhằm giải quyết 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng kiến thức giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng thuộc khối Nội Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2023.
- Xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng thuộc khối Nội Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2023.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ điều dưỡng đang trực tiếp công tác tại các khoa lâm sàng thuộc khối Nội Bệnh viện Đa khoa Hà Đông và đồng ý tham gia nghiên cứu. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại 12 khoa lâm sàng khối Nội của bệnh viện; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ ngày 14/7/2023 đến ngày 20/9/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết truyền thông y tế và các văn bản chỉ đạo chuyên ngành:
- Định nghĩa kinh điển của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1948) về sức khỏe: trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không đơn thuần là không có bệnh hay thương tật.
- Khung lý thuyết truyền thông thay đổi hành vi và kỹ năng GDSK theo Giáo trình Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe của Bộ Y tế.
- Khung pháp lý về quy chuẩn thực hành điều dưỡng theo Thông tư 31/2021/TT-BYT ngày 28/12/2021 của Bộ Y tế.
- Các phương thức truyền thông: GDSK trực tiếp (tư vấn cá nhân, hướng dẫn tại giường, thảo luận nhóm) và GDSK gián tiếp (tờ rơi, áp phích, sổ tay, truyền thông đa phương tiện). Sáu kỹ năng giao tiếp nền tảng trong GDSK gồm: nói, hỏi, lắng nghe, quan sát, thấu hiểu và thuyết phục.
Về phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive design).
- Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (toàn bộ điều dưỡng thỏa mãn tiêu chuẩn chọn và không vướng tiêu chuẩn loại trừ tại thời điểm nghiên cứu). Tổng số mẫu thu thập được là 163 điều dưỡng viên.
- Công cụ thu thập dữ liệu: Bộ phiếu phỏng vấn tự điền được thiết kế chuẩn hóa, kế thừa từ nghiên cứu của Trần Thị Hằng Nga tại Quảng Trị (Cronbach's alpha = 0,86), Nguyễn Tất Thắng tại Bệnh viện K (Cronbach's alpha = 0,83) và Trần Thị Tuyết tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương (Cronbach's alpha = 0,816). Bộ công cụ được xin ý kiến hội đồng chuyên gia (gồm Trưởng phòng Điều dưỡng và Điều dưỡng trưởng các khoa khối Nội), sau đó tiến hành điều tra thử nghiệm trên 40 điều dưỡng thuộc các khoa Nội tổng hợp, Ngoại tiêu hóa và Y học cổ truyền, đạt hệ số tin cậy nội tại Cronbach's alpha = 0,824 (kết quả kiểm định trên mẫu chính thức ghi nhận Cronbach's alpha = 0,816).
- Cấu trúc thang đo và tiêu chí đánh giá: Bộ công cụ gồm 3 phần với thang điểm tối đa là 30 điểm (mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, sai được 0 điểm):
- Phần A (23 câu): Thông tin nhân khẩu học và các yếu tố liên quan (tuổi, giới tính, thâm niên, trình độ chuyên môn, vị trí công tác, số lượng bệnh nhân phụ trách, tần suất GDSK, phương pháp/phương tiện sử dụng, tập huấn đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất, sự giám sát).
- Phần B (20 câu): Kiến thức GDSK theo quy trình điều trị, chia làm 3 giai đoạn: khi người bệnh mới nhập viện (7 câu: từ B1 đến B7), trong quá trình nằm viện (8 câu: từ B8 đến B15), và khi chuẩn bị ra viện (5 câu: từ B16 đến B20).
- Phần C (10 câu): Kỹ năng GDSK (từ C2 đến C11, đo lường các kỹ năng làm quen, quan sát, lắng nghe, đặt câu hỏi, giải thích, khai thác tài liệu, khuyến khích và động viên).
- Tiêu chuẩn phân loại: Kiến thức "Đạt" khi đối tượng đạt từ 80% tổng điểm trở lên (≥ 24/30 điểm); mức "Không đạt" khi điểm số dưới 80% (< 24/30 điểm).
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu bằng Epidata, phân tích bằng phần mềm thống kê y học. Sử dụng các chỉ số thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận (tỷ suất chênh Odds Ratio - OR, khoảng tin cậy 95%CI, giá trị p với mức ý nghĩa kiểm định p < 0,05) để đánh giá mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, đào tạo với mức độ đạt kiến thức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan tài liệu
Chương I hệ thống hóa cơ sở lý luận về sức khỏe, bản chất của hoạt động GDSK và vai trò của điều dưỡng trong chu trình chăm sóc. Tác giả phân tích chi tiết hai phương pháp can thiệp là GDSK trực tiếp và GDSK gián tiếp, đồng thời chỉ rõ bộ kỹ năng giao tiếp đặc thù của nhân viên y tế (kỹ năng chào hỏi, lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi mở/đóng, quan sát phản ứng phi ngôn ngữ, giải thích thông tin bệnh học và kỹ năng động viên).
Về mặt thực nghiệm, tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong nước và quốc tế để làm sáng tỏ khoảng trống nghiên cứu:
- Tại Việt Nam: Nghiên cứu của Nguyễn Tất Thắng và Trần Như Nguyên (2021) tại Bệnh viện K ghi nhận tỷ lệ kiến thức và kỹ năng GDSK của điều dưỡng đạt lần lượt là 85,9% và 78,1%; điều dưỡng được tập huấn có kiến thức đạt gấp 5,1 lần nhóm chưa tập huấn (p = 0,005). Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết (2022) tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ kiến thức đạt là 64,1%. Nghiên cứu tại Bệnh viện C Thái Nguyên (2022) trên 13 điều dưỡng và 65 người bệnh ghi nhận tỷ lệ điều dưỡng đạt kiến thức chung là 61,5%, tốt 15,4% và chưa đạt 23,1%.
- Trên thế giới: Nghiên cứu của Nader Aghakhani và cộng sự (2012) tại Iran chỉ ra 73,6% điều dưỡng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của GDSK và coi đây không phải trách nhiệm chính. Nghiên cứu của M Pueyo-G (2021) trên 458 điều dưỡng lâm sàng tại 2 bệnh viện ở Tây Ban Nha chỉ rõ ba rào cản lớn nhất đối với việc thực hành GDSK gồm: thiếu đào tạo (71,4%), thiếu thời gian (67,5%) và khối lượng công việc cao (67,3%).
- Đặc điểm địa bàn: Bệnh viện Đa khoa Hà Đông là cơ sở y tế hạng I gồm 3 khối chuyên môn (khối ngoại lâm sàng, khối nội lâm sàng, khối cận lâm sàng). Dù đã triển khai các hình thức như chiếu phim ảnh, treo paner, phát áp phích, nhưng thực trạng kiến thức và kỹ năng của điều dưỡng khối Nội tại đây chưa từng được nghiên cứu có hệ thống trước năm 2023.
Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận khoa học của đề tài. Đối tượng nghiên cứu gồm 163 điều dưỡng công tác tại 12 khoa lâm sàng khối Nội trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2023 đến 20/9/2023. Quy trình nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ tiêu chuẩn chọn mẫu và đạo đức nghiên cứu y sinh học (đối tượng tham gia tự nguyện qua bản cam kết đồng thuận, dữ liệu thu thập chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu và bảo mật thông tin cá nhân).
Cấu trúc biến số nghiên cứu được xây dựng thành 4 nhóm cụ thể theo bảng danh mục:
| Nhóm biến số |
Ký hiệu biến |
Nội dung đo lường chính |
Loại biến |
| Đặc điểm chung của đối tượng (Bảng 2.1) |
A1 – A23 |
Giới tính, nhóm tuổi, thâm niên, khoa phòng, trình độ chuyên môn, vị trí công tác, số NB chăm sóc hàng ngày, tần suất/phương pháp/phương tiện GDSK, việc tham gia tập huấn, văn bản quy định, trang thiết bị, hoạt động giám sát, khó khăn gặp phải. |
Định tính / Định lượng |
| Kiến thức GDSK theo quy trình (Bảng 2.2) |
B1 – B20 |
- Lúc vào viện (B1-B7): Nội quy, tiến triển bệnh, tuân thủ điều trị, tự chăm sóc, dinh dưỡng, vận động, an toàn thiết bị. - Khi nằm viện (B8-B15): Tình trạng bệnh, dùng thuốc an toàn, tác dụng phụ, xử trí phản ứng có hại, kiểm soát đau, chống ngã, phòng nhiễm khuẩn, vệ sinh cá nhân. - Khi ra viện (B16-B20): Uống thuốc theo đơn, tái khám, tự theo dõi bệnh tái phát, dinh dưỡng an toàn, thay đổi thói quen có hại, đến cơ sở y tế khi có dấu hiệu cảnh báo. |
Định tính (Đúng/Sai) |
| Kỹ năng GDSK (Bảng 2.3) |
C1 – C11 |
Thực hiện kỹ năng làm quen, quan sát, lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, giải thích cặn kẽ, sử dụng tài liệu truyền thông, kỹ năng động viên và khen ngợi người bệnh. |
Định tính (Đúng/Sai) |
| Các yếu tố liên quan (Bảng 2.4) |
Yếu tố phân tích |
Tuổi, giới tính, thâm niên công tác, trình độ học vấn, vị trí làm việc, khối lượng chăm sóc bệnh nhân hàng ngày, đào tạo/tập huấn, stress nghề nghiệp, sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện. |
Chỉ số OR, 95%CI, giá trị p |
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Chương III trình bày số liệu thống kê thu được từ 163 điều dưỡng tham gia khảo sát.
Về mức độ đạt kiến thức tổng thể: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức GDSK đạt chuẩn (≥ 24 điểm) chiếm 79,8%; tỷ lệ chưa đạt chiếm 20,2%. Đa số điều dưỡng thể hiện sự linh hoạt trong kỹ thuật giao tiếp khi có tới 92,0% đối tượng báo cáo có sự kết hợp đồng thời nhiều kỹ năng trong quá trình tư vấn.
Bảng tổng hợp tỷ lệ thực hiện các nhóm kỹ năng GDSK cụ thể của điều dưỡng (n = 163):
| Nhóm kỹ năng GDSK đo lường |
Tỷ lệ thực hiện đầy đủ (%) |
| Kỹ năng làm quen (chào hỏi, giới thiệu mục đích, tạo sự thân mật) |
98,8% |
| Kỹ năng quan sát (nhận biết cử chỉ, nét mặt, biểu hiện phi ngôn ngữ) |
98,8% |
| Kỹ năng lắng nghe (tập trung, lắng nghe phản hồi của người bệnh) |
96,9% |
| Kỹ năng sử dụng tài liệu truyền thông (tờ rơi, tranh ảnh đúng nguồn) |
96,9% |
| Kỹ năng đặt câu hỏi (câu hỏi rõ ràng, định hướng thông tin) |
95,7% |
| Kỹ năng giải thích (dùng từ ngữ dễ hiểu, truyền đạt ngắn gọn) |
95,7% |
| Kỹ năng khuyến khích, động viên (khen ngợi, tạo động lực tâm lý) |
93,9% |
Về các yếu tố liên quan đến kiến thức GDSK: Phân tích đơn biến và hồi quy xác định 03 yếu tố có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê rõ rệt (p < 0,05) với mức độ đạt kiến thức GDSK:
| Yếu tố liên quan |
Tỷ suất chênh (OR) |
Khoảng tin cậy (95%CI) |
Giá trị p |
| Được tập huấn về GDSK (so với chưa từng tập huấn) |
5,62 |
1,41 – 22,2 |
< 0,05 |
| Trình độ chuyên môn (trình độ cao đẳng/đại học so với trung cấp) |
2,60 |
0,92 – 7,16 |
< 0,05 |
| Vị trí công tác (điều dưỡng phụ trách buồng bệnh/hành chính/trưởng khoa) |
1,28 |
1,17 – 1,39 |
< 0,05 |
Các yếu tố khác như nhóm tuổi, giới tính, thâm niên công tác và số lượng bệnh nhân chăm sóc hàng ngày cũng được đưa vào mô hình phân tích để xác định tương quan thực tế tại các khoa phòng.
Chương IV: Bàn luận
Chương IV đối chiếu các kết quả thu được tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế:
- Tỷ lệ kiến thức đạt 79,8% tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cao hơn kết quả của Trần Thị Tuyết tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2022 (64,1%) và nghiên cứu tại Bệnh viện C Thái Nguyên (61,5%), song thấp hơn tỷ lệ đạt tại Bệnh viện K năm 2021 của Nguyễn Tất Thắng (85,9%). Điều này phản ánh mặt bằng kiến thức của điều dưỡng khối Nội duy trì ở mức tương đối tốt nhưng vẫn còn khoảng cách cần cải thiện.
- Về vai trò của hoạt động đào tạo liên tục: Tác giả thảo luận sâu về phát hiện điều dưỡng được tham gia tập huấn có khả năng đạt kiến thức gấp 5,62 lần nhóm chưa được đào tạo (OR = 5,62; p < 0,05). Kết quả này hoàn toàn tương thích với dữ liệu tại Bệnh viện K (nhóm được tập huấn đạt kiến thức gấp 5,1 lần, p = 0,005) và luận điểm của M Pueyo-G (2021) tại Tây Ban Nha khi khẳng định thiếu đào tạo là rào cản lớn nhất đối với thực hành GDSK (chiếm 71,4%).
- Mối liên quan với vị trí công tác (OR = 1,28) và trình độ chuyên môn (OR = 2,6): Điều dưỡng có trình độ học vấn cao hơn và đảm nhiệm các vị trí chuyên trách có khả năng tiếp cận các hướng dẫn mới của Bộ Y tế tốt hơn, từ đó làm chủ các nội dung tư vấn về tuân thủ điều trị, nhận biết tác dụng phụ của thuốc và phòng chống té ngã cho người bệnh nội trú.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các phát hiện thực chứng và đưa ra các kiến nghị mang tính ứng dụng thực tiễn:
-
Các kết quả then chốt:
- Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội có kiến thức GDSK đạt chuẩn chiếm 79,8% (n = 163).
- Tỷ lệ kết hợp các kỹ năng GDSK đạt mức rất cao là 92,0%. Trong đó, kỹ năng làm quen và quan sát đạt tỷ lệ cao nhất (98,8%), tiếp theo là lắng nghe và sử dụng tài liệu (96,9%), đặt câu hỏi và giải thích (95,7%), và thấp nhất là khuyến khích, khen ngợi (93,9%).
- Xác định được 3 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức GDSK: Tập huấn chuyên môn (OR = 5,62; 95%CI = 1,41 – 22,2), Trình độ chuyên môn (OR = 2,6; 95%CI = 0,92 – 7,16), và Vị trí công tác (OR = 1,28; 95%CI = 1,17 – 1,39).
-
Kiến nghị của tác giả:
- Duy trì và tăng cường hoạt động theo dõi, giám sát định kỳ các buổi GDSK của điều dưỡng tại từng khoa/phòng thông qua Phòng Điều dưỡng và mạng lưới Điều dưỡng trưởng khoa.
- Tổ chức các chương trình đào tạo liên tục, tập huấn chuyên sâu về kỹ năng truyền thông – GDSK cho điều dưỡng viên, đặc biệt ưu tiên cho nhóm nhân sự trẻ, mới vào nghề hoặc người có trình độ chuyên môn ban đầu thấp.
- Chuẩn hóa tài liệu truyền thông trực quan (tờ rơi, áp phích, sổ tay hướng dẫn bệnh nhân khối Nội) nhằm hỗ trợ điều dưỡng thực hiện tư vấn hiệu quả hơn tại giường bệnh.
-
Đóng góp của đề tài:
- Cung cấp bức tranh thực trạng đầu tiên có cơ sở dữ liệu định lượng đầy đủ về kiến thức và kỹ năng tư vấn GDSK của điều dưỡng khối Nội tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông.
- Khẳng định giá trị thực tiễn của công tác tập huấn, cung cấp bằng chứng định lượng giúp hội đồng điều dưỡng và ban lãnh đạo bệnh viện xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực phù hợp với Thông tư 31/2021/TT-BYT.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và thiết kế nghiên cứu:
- Thiết kế mô tả cắt ngang chỉ phản ánh thực trạng kiến thức và kỹ năng tại một thời điểm nhất định (tháng 7 đến tháng 9/2023), chưa đo lường được sự biến thiên theo thời gian hoặc đánh giá sự thay đổi hành vi thực tế sau các khóa can thiệp đào tạo.
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung trên đối tượng điều dưỡng tại 12 khoa lâm sàng thuộc khối Nội, chưa khảo sát đối chiếu với khối Ngoại hoặc các khoa chuyên biệt khác trong bệnh viện.
- Phương pháp thu thập dữ liệu chủ yếu thông qua bảng hỏi phát vấn tự điền, do đó khó tránh khỏi hoàn toàn nguy cơ sai số tự báo cáo (self-reporting bias) từ phía đối tượng nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ các khoa lâm sàng khối Ngoại và Cận lâm sàng của bệnh viện để có cái nhìn tổng thể về năng lực GDSK của toàn bệnh viện.
- Kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng phát vấn với quan sát bảng kiểm thực hành trực tiếp tại giường bệnh và phỏng vấn đánh giá mức độ hài lòng, khả năng tiếp nhận thông tin từ phía người bệnh.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn rõ rệt đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Điều dưỡng, Y tế công cộng: Cung cấp tài liệu mẫu mực về phương pháp nghiên cứu cắt ngang trong lâm sàng, quy trình chuẩn hóa bộ công cụ thu thập số liệu (từ thiết kế câu hỏi, thử nghiệm kiểm định Cronbach's alpha đến phân tích hồi quy xác định tỷ suất chênh OR).
- Bộ phận quản lý điều dưỡng và lãnh đạo bệnh viện: Cung cấp mô hình khảo sát thực tế và các bằng chứng thực nghiệm để đánh giá chất lượng nhân sự điều dưỡng theo Thông tư 31/2021/TT-BYT; là căn cứ khoa học để thiết kế nội dung các khóa đào tạo lại kỹ năng giao tiếp y khoa.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biến số (Bảng 2.1 đến 2.4) với 20 câu hỏi kiến thức theo chu trình người bệnh (nhập viện - nằm viện - ra viện) và 10 câu hỏi kỹ năng GDSK được lượng hóa rõ ràng, có độ tin cậy kiểm định cao (Cronbach's alpha > 0,8).
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức GDSK "Đạt" và "Không đạt" trong khóa luận được quy định như thế nào?
Kiến thức của điều dưỡng được đánh giá trên thang điểm 30 (gồm 20 câu kiến thức quy trình và 10 câu kỹ năng GDSK, mỗi câu đúng được 1 điểm). Tác giả quy định mức "Đạt" là khi đối tượng trả lời đúng từ 80% tổng điểm trở lên (tương đương từ 24 điểm trở lên); mức "Không đạt" là dưới 80% tổng số điểm (dưới 24 điểm).
2. Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội có kiến thức GDSK đạt chuẩn tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2023 là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát trên toàn bộ 163 điều dưỡng viên khối Nội cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức GDSK đạt chuẩn là 79,8% (tương ứng tỷ lệ chưa đạt là 20,2%).
3. Kỹ năng GDSK nào được điều dưỡng thực hiện đầy đủ nhất và kỹ năng nào có tỷ lệ thực hiện thấp nhất?
Kỹ năng được thực hiện đầy đủ nhất là kỹ năng làm quen và kỹ năng quan sát (đều đạt 98,8%), tiếp theo là kỹ năng lắng nghe và sử dụng tài liệu (96,9%), kỹ năng đặt câu hỏi và giải thích (95,7%). Kỹ năng có tỷ lệ thực hiện thấp nhất là khuyến khích, động viên (khen ngợi) người bệnh, đạt 93,9%.
4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ đạt kiến thức GDSK của điều dưỡng trong nghiên cứu này?
Yếu tố tập huấn về GDSK có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất: nhóm điều dưỡng đã tham gia đào tạo/tập huấn có khả năng đạt kiến thức GDSK cao gấp 5,62 lần so với nhóm chưa từng được tập huấn (OR = 5,62; 95%CI = 1,41 – 22,2; p < 0,05).
5. Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở nào và độ tin cậy được kiểm định ra sao?
Bộ công cụ được thiết kế dựa trên Giáo trình Khoa học hành vi và GDSK cùng các hướng dẫn hoạt động truyền thông năm 2021 của Bộ Y tế, tham khảo bộ công cụ từ nghiên cứu của Trần Thị Hằng Nga, Nguyễn Tất Thắng, Trần Thị Tuyết và xin ý kiến chuyên gia. Bộ công cụ đã được khảo sát thử nghiệm trên 40 điều dưỡng tại khoa Nội tổng hợp, Ngoại tiêu hóa, Y học cổ truyền và đạt độ tin cậy Cronbach's alpha = 0,824 (trên mẫu chính thức đạt 0,816).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mai Ngọc Anh đã hoàn thành toàn diện hai mục tiêu nghiên cứu thông qua thiết kế mô tả cắt ngang trên 163 điều dưỡng tại 12 khoa lâm sàng khối Nội Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2023. Kết quả ghi nhận 79,8% điều dưỡng có kiến thức GDSK đạt chuẩn và 92,0% điều dưỡng biết kết hợp linh hoạt nhiều kỹ năng giao tiếp trong quá trình can thiệp. Nghiên cứu đã chứng minh vai trò then chốt của công tác tập huấn, trình độ chuyên môn và vị trí công tác đối với việc nâng cao kiến thức GDSK, từ đó cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng để bệnh viện tăng cường giám sát và tổ chức đào tạo lại nhằm chuẩn hóa năng lực điều dưỡng theo quy định của Bộ Y tế.