phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong phạm vi 3 chương như sau: Chương 2: Tổng quan về chuyển giá và chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI việt nam Chương 3: Thực trạng chuyển giá và chống chuyển giá ở các doanh nghiệp FDI ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam Chương 4: Giải pháp chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ CHỐNG CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI VIỆT NAM 2. Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI 2. Khái niệm chuyển giá trong các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.
Chuyển giá là một khái niệm kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đầu tư nước ngoài, công ty xuyên quốc gia (đa quốc gia). Khi nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta có hai vấn đề cần bàn tới đó là vốn FDI và mặt trái đó là sự thất thu thuế do hiện tượng chuyển giá gây ra. Trong những năm đầu thời kỳ hội nhập nguồn vốn FDI đã cải thiện rất nhiều cho GDP quốc dân, khoa học kỹ thuật… Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả.
Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau: Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục. Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ.
Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có mối quan hệ liên kết.
Để làm điều này họ phải thiết lập một chính 4 sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó nếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao. Các đối tượng này nắm bắt và vận dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp.
Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh. Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá. Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ cho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao. Chẳng hạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế TNDN tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế mà nhà nước thu được.
Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này. Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết. Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá. Nhưng giao kết về giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá.
Bởi lẽ nếu giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích. Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa. Lợi ích của hiện tượng chuyển giá Chuyển giá là hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường, do nhiều nguyên nhân sau: Một là, các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đầu tư vào kinh doanh vì mục đích lợi nhuận. Chủ thể thực hiện hành vi chuyển giá chủ yếu nhằm mục đích giảm hoặc tránh mức thuế phải nộp để mang lại lợi nhuận cao nhất.
Trong khi việc kiểm soát hành vi chuyển giá lại không dễ dàng, do vậy, nhiều chủ thể kinh doanh đã lợi dụng điều đó để chuyển giá. 5 Chủ thể thực hiện hành vi chuyển giá còn nhằm tối đa hóa lợi ích của mình trong các quan hệ góp vốn, quan hệ kinh doanh… trên cơ sở làm giảm lợi ích của các chủ thể khác. Hai là, trong điều kiện nền kinh tế thị trường các chủ thể kinh doanh có quyền tự định đoạt, quyền tự chủ trong kinh doanh. Do đó, việc thỏa thuận với nhau về giá cả hàng hóa, tài sản, dịch vụ là do các bên tham gia quan hệ hợp đồng thỏa thuận.
Lợi dụng điều này mà hành vi chuyển giá trở nên phổ biến. Ba là, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích kinh tế giữa các thành viên trong nhóm liên kết (giữa các công ty trong cùng tập đoàn, giữa công ty mẹ với công ty con, giữa các thành viên liên doanh…). Khi thực hiện chuyển giá giữa các thành viên này sẽ không làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của cả nhóm, làm lợi ích kinh tế trong nhóm sẽ tăng. Thông qua hành vi chuyển giá mà nghĩa vụ thuế của các bên chuyển giá bị chuyển từ nơi điều tiết cao sang nơi điều tiết thấp hơn và ngược lại.
Bốn là, hệ thống pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, chưa đủ cơ sở pháp lý cho việc xác định các hành vi chuyển giá và chế tài áp dụng còn yếu và thiếu. Mặt khác, hệ thống pháp luật hiện hành còn có quá nhiều khe hở, chưa đồng bộ, từ đó tạo điều kiện cho hành vi chuyển giá dễ dàng được thực hiện. Năm là, cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán còn nhiều bất cập, chưa đủ sức phát hiện để xử lý tất cả các hành vi chuyển giá. Sáu là, vai trò quản lý của Nhà nước còn yếu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ quản lý chưa cao.
Bên cạnh đó, trình độ của một số doanh nhân khi cùng góp vốn với đối tác cũng còn nhiều hạn chế, do vậy thường bị yếu thế trong kinh doanh, đối tác lợi dụng để chuyển giá. Hậu quả của chuyển giá đối với nước được tiếp nhận Kết quả của việc chuyển giá từ doanh nghiệp FDI đưa đến những ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam như: Thứ nhất, thất thu ngân sách nhà nước do thất thu nguồn thuế thu nhập doanh nghiệp.Cụ thể: 50% doanh nghiệp FDI thua lỗ có tỷ trọng đóng góp vào tổng thu ngân sách quốc gia của khối doanh nghiệp FDI (không tính thu từ dầu thô) chỉ chiếm từ 9 - 10% hoặc có năm 12%, đó là con số đóng góp khá thấp. Thứ hai, gia tăng giá trị nhập khẩu, tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán. Việc nâng khống giá trị thiết bị, máy móc, nguyên liệu đã khiến cho khu vực FDI mặc dù có xuất khẩu, song giá trị nhập khẩu vẫn cao, dẫn đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán bị thâm hụt.
6 Thứ ba, làm môi trường kinh doanh trong nước xấu đi: Hành vi chuyển giá này hoặc làm người tiêu dùng bị thiệt hại khi giá cả sản phẩm được tính toán trên cơ sở không rõ ràng, khoa học, hợp lý, sản phẩm đến tay người tiêu dùng với mức giá đắt hơn; Gây khó khăn cho DN nội địa. Việc tạo ra lợi thế từ việc “tối thiểu hóa” số thuế phải nộp và “tối đa hóa” lợi nhuận nên phần lớn DN FDI dễ dàng cạnh tranh với các DN trong nước khiến cho DN Việt Nam có thể bị thua lỗ, bị phá sản hoặc phải chuyển sang kinh doanh ngành hàng khác. Nhiều DN lớn, thương hiệu mạnh có thể dùng định giá chuyển giao để tạo ra sản phẩm với giá thành thấp hoặc tạo ra những chiến lược “lời thật, lỗ giả” để ép các DN yếu hơn, đặc biệt là những DN nội địa thuần túy. Thứ tư, góp phần làm sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn FDI nói riêng và vốn nói chung.
Cụ thể: giai đoạn 2000 -2013, để tạo ra 1 đồng giá trị tăng thêm, khu vực kinh tế FDI phải bỏ ra 10,10 đồng vốn, trong khi đó, khu vực kinh tế nhà nước là 8,20 đồng và khu vực ngoài nhà nước chỉ 3,54 đồng. Vì vậy, chuyển giá không chỉ làm thất thu ngân sách nhà nước, mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.