Thực trạng cho thuê lại lao động trong công ty Kinh Đô miền Bắc và các kiến nghị pháp luật

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng cho thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô miền Bắc và đề xuất hoàn thiện pháp luật liên quan.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2017

134
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG

1.1. Một số vấn đề lý luận về cho thuê lại lao động

1.2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về cho thuê lại lao động

1.2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện cho thuê lại lao động

1.2.2. Quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng cho thuê lại lao động

1.2.3. Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cho thuê lại lao động

1.2.4. Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động liên quan đến cho thuê lại lao động

1.2.5. Quy định của pháp luật hiện hành về thanh tra và giải quyết khiếu nại liên quan đến cho thuê lại lao động

1.2.6. Quy định của pháp luật hiện hành về chế độ báo cáo về việc cho thuê lại lao động

1.3. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THUÊ LẠI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY KINH ĐÔ MIỀN BẮC

2.1. Tổng quan về cho thuê lại lao động trong khu vực và nhu cầu thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô Miền Bắc

2.1.1. Tổng quan về cho thuê lại lao động trong khu vực

2.1.2. Nhu cầu thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô Miền Bắc

2.2. Thực trạng thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô Miền Bắc

2.2.1. Thực trạng các bước thẩm định hồ sơ pháp lý

2.2.2. Thực trạng về hồ sơ pháp lý của các doanh nghiệp cho thuê lại

2.2.3. Thực trạng sử dụng lao động thuê lại tại Công ty Kinh Đô Miền Bắc

2.2.4. Đánh giá quá trình thực hiện pháp luật về cho thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô Miền Bắc

2.3. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY KINH ĐÔ MIỀN BẮC

3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao động

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao động

3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về các nội dung liên quan đến giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động

3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng liên quan đến hoạt động cho thuê lại lao động

3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cho thuê lại lao động

3.2.4. Kiến nghị về biểu mẫu áp dụng để ký kết giữa đơn vị cho thuê lại lao động với bên thuê lại

3.2.5. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động liên quan đến cho thuê lại lao động

3.2.6. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về thanh tra và giải quyết khiếu nại liên quan đến cho thuê lại lao động

3.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cho thuê lại lao động cho bên thuê lại lao động nói chung và tại Công ty Kinh Đô Miền Bắc nói riêng

3.3.1. Kiến nghị về công tác thẩm định hồ sơ năng lực của đơn vị cung cấp

3.3.2. Kiến nghị về công tác quản lý, khen thưởng, kỷ luật, khiếu nại tố cáo liên quan đến người lao động thuê lại

3.3.3. Kiến nghị về công tác trả lương, thưởng, chế độ phúc lợi cho người lao động

3.3.4. Kiến nghị về công tác tiếp tục thuê lại người lao động

3.3.5. Kiến nghị về thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động phù hợp với danh mục ngành nghề được cho thuê lại

3.4. Kết luận Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng cho thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô miền Bắc

Hoạt động cho thuê lao động tại Công ty Kinh Đô miền Bắc đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty. Nhu cầu thuê lại lao động ngày càng tăng cao, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ. Công ty Kinh Đô đã áp dụng mô hình này để tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Theo thống kê, tỷ lệ lao động thuê lại tại công ty này đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Tuy nhiên, thực trạng này cũng đặt ra nhiều thách thức, bao gồm việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động và tuân thủ các quy định của pháp luật lao động. Một số vấn đề nổi bật bao gồm sự thiếu minh bạch trong hợp đồng lao động và việc thực hiện các chế độ phúc lợi cho người lao động. Điều này dẫn đến những tranh chấp và khiếu nại từ phía người lao động, ảnh hưởng đến uy tín của công ty.

1.1 Tổng quan về nhu cầu thuê lại lao động

Nhu cầu thuê lại lao động tại Công ty Kinh Đô miền Bắc chủ yếu xuất phát từ việc công ty cần linh hoạt trong việc điều chỉnh số lượng lao động theo từng giai đoạn sản xuất. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc sử dụng lao động thuê lại giúp công ty tiết kiệm chi phí và tăng cường khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, việc này cũng đặt ra yêu cầu cao về quản lý và giám sát chất lượng lao động. Công ty cần phải đảm bảo rằng các đơn vị cung cấp lao động đáp ứng đủ tiêu chuẩn về chất lượng và pháp lý. Điều này không chỉ giúp công ty duy trì hiệu quả sản xuất mà còn bảo vệ quyền lợi của người lao động, tránh những rủi ro pháp lý có thể xảy ra.

1.2 Thực trạng hợp đồng lao động và quyền lợi người lao động

Thực trạng hợp đồng lao động tại Công ty Kinh Đô miền Bắc cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện. Hợp đồng lao động thường thiếu rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Điều này dẫn đến sự hiểu lầm và tranh chấp giữa công ty và người lao động. Theo quy định của pháp luật lao động, người lao động có quyền được thông báo đầy đủ về các điều khoản trong hợp đồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều người lao động không được cung cấp thông tin đầy đủ, dẫn đến việc họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình. Công ty cần phải cải thiện quy trình soạn thảo và thực hiện hợp đồng lao động, đảm bảo tính minh bạch và công bằng cho tất cả các bên liên quan.

II. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao động

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động cho thuê lại lao động, cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật lao động hiện hành. Trước hết, cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng hơn về các điều kiện và quy trình cho thuê lại lao động. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp như Công ty Kinh Đô có thể hoạt động trong một môi trường pháp lý ổn định và minh bạch. Thứ hai, cần có các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thuê lại lao động. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro pháp lý không đáng có. Cuối cùng, cần tăng cường công tác thanh tra và giám sát hoạt động cho thuê lại lao động để đảm bảo việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

2.1 Hoàn thiện quy định về hợp đồng lao động

Cần có những quy định cụ thể hơn về nội dung hợp đồng lao động trong hoạt động cho thuê lại lao động. Hợp đồng cần phải rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Ngoài ra, cần có các mẫu hợp đồng chuẩn để các doanh nghiệp có thể tham khảo và áp dụng, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong toàn quốc.

2.2 Tăng cường công tác thanh tra và giám sát

Công tác thanh tra và giám sát hoạt động cho thuê lại lao động cần được tăng cường để đảm bảo việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật lao động. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện pháp luật tại các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có hoạt động thuê lại lao động. Điều này không chỉ giúp phát hiện kịp thời các vi phạm mà còn tạo ra một môi trường làm việc công bằng và minh bạch cho người lao động.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CHO THUÊ LAI LAO DONG VA PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE CHO THUE LAI LAO DONG 1.1 Một số vấn đề lý luận về cho thuê lại lao động 1. Khái niệm và đặc điểm cho thuê lại lao động 1. Khai niệm cho thuê lại lao động Trên thế giới, cho thuê lại lao động là một hình thức cung ứng nhân lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh và được áp dụng ngày càng pho biến ở nhiều nước. Khi sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu thuê lại lao động cũng tăng theo tỷ lệ thuận.

Tại Việt Nam thì trước năm 2012, hoạt động này đang còn rất mới. Theo đó tại Quyết định số 25/QD-TTg ngày 07/1/2008 về VIỆC giao triển khai nhiệm vụ soạn thảo Bộ luật lao động sửa đôi cho cơ quan chủ trì là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ngày 06/9/2011, Bộ đã có báo cáo số 68/BC-LDTBXH trình Thủ tướng Chính phủ về việc tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật lao động, làm tiền đề cho việc sửa đôi một cách cơ bản, toàn diện Bộ luật lao động trình Quốc Hội khóa 13 kỳ họp thứ 3 thông qua. Lần đầu tiên một số khái niệm liên quan đến hoạt động “cho thuê lại lao động” đã được các cơ quan chức năng nghiên cứu, xem xét đưa vào mục “van dé mới” của báo cáo mà qua thực tiễn thấy rang Bộ luật lao động năm 1994 và các văn ban sửa đổi trước đó chưa quy định (chưa điều chỉnh) như: “Vấn đề cho thuê nhân viên và dịch vụ cho thuê nhân viên (Laboursub-leasing, Dispatching work)”; van đề “Cho thuê lại lao động” (Labour outsourcing); van đề “Lao động không tron thời gian (part time)”. Về sau này, chúng ta biết đến một khái niệm sử dụng thống nhất là “cho thuê lại lao động” ké từ Bộ luật lao động năm 2012.

Như vậy, dé xem xét toàn diện hơn ở góc độ khái niệm, chúng ta còn thấy một số nước trên thế giới dùng dưới nhiều tên gọi khác như “lao động cho thuê tạm thời”; “lao động phái cử”; “cung ứng lao động”. Như vậy, khái niệm cho thuê lại lao động đã được dùng tương đối phổ biên tại các nước có nên kinh tê thị trường phát triên trước khi đưa vào ap 10 dụng tại nước ta. Qua các tài liệu nghiên cứu của các chuyên gia thì tại Đức, hoạt động cho thuê lại lao động đã diễn ra rất lâu đời, có từ những thập niên 60 - 70 của thé kỷ 20. Các nước khác như Mỹ, Nhật Ban, Hàn Quốc cũng có lịch sử áp dụng tương tự.

“Tại Mỹ không có luật liên bang về cho thuê lại lao động. Nhưng một số tiểu bang có luật trong lĩnh vực này”. “Tai Nhật, hoạt động cho thuê lại lao động rất phát triển. Hoạt động cho thuê lao động được cho phép khi Luật về thuê lại lao động (Luật số 88) được ban hành vào năm 1985”.

Tại Hàn Quốc cũng ban hành luật cho thuê lao động năm 1998. Các nước gần Việt Nam như Trung Quốc cũng đã quy định trong một chương của Luật hợp đồng lao động. Việc Việt Nam lần đầu tiên sử dụng khái niệm cho thuê lại lao động trong Bộ luật lao động năm 2012 đã phan nao thé hiện qua trình hội nhập về lĩnh vực lập pháp sâu rộng dé đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn. Trong thực tẾ, qua một số báo cáo của các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại nhiều địa phương thì việc quy định mới trong Bộ luật lao động về hoạt động cho thuê lại lao động không đồng nghĩa với việc từ năm 2012 trở đi, hoạt động này mới diễn ra mà trước đó đã xuất hiện “bán công khai” từ những năm 2000 nhưng không thông tin với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, dẫn đến phát sinh nhiều hình thức tranh chấp.

Theo báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Bộ luật lao động năm 1994 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội thì “hoại động cho thuê lại lao động tuy không được phép, nhưng hàng loạt các doanh nghiệp vẫn tiếp tục cung cấp dịch vụ cho thuê lại lao động, trong đó có các tên tuổi lớn trong lĩnh vực nhân sự ở Việt Nam như Navigos, L&A, Man Power. Các doanh nghiệp có nhu cau sử dung dịch vụ thuê lại lao động cũng ngày càng nhiễu, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất gia công theo tinh thời vụ, doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài”. Do đó, nhu cầu cấp thiết là cần phải có sự điều chỉnh và luật hóa hoạt động cho thuê lại lao động. 3 Nguyén Xuân Thu (2011), Cho thué lại lao động- Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong nên kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.

* Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011), Báo cáo tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật lao động số 68/BC-LĐTBXH ngày 06/9/2011, tr. 11 Vay cho thuê lai lao động là gi? Xét vé mat cau tric ngữ pháp, “cho thuê lai lao động” được xem là một cụm từ chỉ hoạt động, phải có ít nhất 3 chủ thể cùng tham gia. Xét về mặt nội hàm, cho thuê lại lao động cần được hiểu dưới góc độ là việc NSDLD này (doanh nghiệp cho thuê lao động) cho NSDLD khác thuê lại NLD của mình (bên thuê lại lao động) trong một thời gian nhất định theo hợp đồng dịch vụ (hợp đồng cho thuê lại lao động) đã được ký kết giữa hai bên. Theo đó, NSDLĐ thuê lại có quyền sử dụng, quản lý điều hành đối với NLD đó và phải trả phí dịch vụ cho doanh nghiệp cho thuê lao động.

Mối quan hệ tương hỗ ở đây được thé hiện đồng thời ở 3 mối quan hệ, quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động, quan hệ lao động giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động với NLĐ và mối quan hệ sử dụng lao động giữa bên thuê lại lao động và NLĐ. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong các quy định về việc làm tạm thời (Khuyến nghị việc làm 198) và quy định về tô chức việc làm tư nhân (Công ước 181 và Khuyến nghị 188)” cũng đã gián tiếp thừa nhận hoạt động cho thuê lại lao động, bao gồm “những tổ chức việc làm tư nhân tuyển lao động và cung ứng cho bên thứ ba. Bên thứ ba này sé giao việc và giám sát NLD trong việc thực hiện công việc được giao an Tuy nhiên, mức độ chap thuận giữa các quốc gia lại khác nhau. Có quốc gia thì chấp thuận việc doanh nghiệp tuyén dụng NLD dé vào doanh nghiệp làm việc nhưng trong quá trình sử dụng có thé cho doanh nghiệp khác thuê lại, có quốc gia thận trọng hơn thì chỉ chấp thuận cho thuê lại lao động với tư cách là hoạt động kinh doanh, đó là NLĐ khi được tuyển dụng sẽ không làm việc cho doanh nghiệp mà đi làm việc cho doanh nghiệp khác.

Từ phân tích trên đây, qua xem xét khái niệm vé cho thuê lại lao động theo pháp luật Việt Nam hiện hành: “Cho thué lai lao động là việc NLD da được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho NSDLD khác, chịu sự điều hành của NSDLĐ sau và > Mai Đức Thiện (2011), Hoạt động cho thuê lại lao động với việc sửa đổi Bộ luật lao động tại Việt Nam, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. ° Mai Đức Thiện, tlđd chú thích 21, tr. 12 van duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.” Ta có thê thấy: “Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức cho thuê lại lao động với tư cách là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp””.

Đặc điểm cho thuê lại lao động Tại Việt Nam, thị trường lao động những năm gần đây trở nên cực kỳ sôi nổi ké từ khi có quy định về cho thuê lại lao động trong Bộ luật lao động năm 2012. Qua nghiên cứu, chúng ta thấy hoạt động này có các đặc điểm nhận biết dé có thé dé dang phân biệt sau đây: Thứ nhất, cho thuê lại lao động là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, chỉ hình thành và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Nếu trong nên kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sức lao động không được công nhận là hàng hóa, vậy nên không ai được trao đôi, mua đi bán lại. Khi nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa xuất hiện, việc thương phẩm hóa sức lao động đã nảy sinh như một nhu cầu khách quan và tất yêu.

Khi đó sức lao động chịu sự tac động của quy luật cung cầu. “Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, lý luận về hàng hóa sức lao động vừa không gây cản trở đối với địa vị chủ nhân của NLĐ, vừa không phá bỏ phương thức phân phối theo lao động mà các nước xã hội chủ nghĩa đã theo đuôi. Điều khác biệt chỉ là ở chỗ nó phản ánh các quan hệ kinh tế khác nhau”. Thứ hai, cho thuê lại lao động có sự tham gia giữa ba chủ thể (NLĐ, doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động) trong mối quan hệ ba bên vừa có đặc điểm cơ bản của quan hệ thương mại và vừa có đặc điểm của quan hệ lao động (quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại, quan hệ lao động theo hợp đồng lao động và quan hệ sử dụng lao động).

Đặc điểm này chính là bản chất cơ bản của cho thuê lại lao động. Theo đó, giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và NLĐ luôn tồn tại mối quan hệ lao động dưới hình thức giao kết hợp đồng lao động — một 7 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật lao động năm 2012 (khoản 1 Điều 53) Š Lưu Bình Nhưỡng (2015), “Bình luận khoa học Bộ luật lao động 2012”, Nxb. lao động, tr. ? Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998), Đại tir điển kinh tế thị trường, Nxb.

Từ điện Bách khoa, Hà Nội, tr. 1056, trích trong tài liệu: Viện nghiên cứu lập pháp (2011), M⁄Ó: số khái niệm về lao động và thị trường lao động, tại địa chỉ: http://vnclp.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_Detail.aspx?ItemID=57 ngày truy cập 15/06/2017. 13 quan hệ làm công ăn lương, chịu sự điều chỉnh của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực trạng cho thuê lại lao động tại công ty Kinh Đô miền Bắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình cho thuê lại lao động tại một trong những công ty lớn ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả phân tích những thách thức mà công ty đang đối mặt, bao gồm các vấn đề pháp lý và quản lý nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của mô hình cho thuê lao động. Độc giả sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của việc điều chỉnh chính sách để bảo vệ quyền lợi của người lao động và nâng cao hiệu suất làm việc.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến quản lý nguồn nhân lực, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ mối quan hệ giữa năng lực học tập tổ chức và sự hài lòng đối với công việc của người lao động nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp công nghệ thông tin tại tp hcm, nơi khám phá mối liên hệ giữa năng lực học tập và sự hài lòng trong công việc. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý kinh tế hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại công ty tnhh mtv quản lý khai thác công trình thủy lợi bắc kạn, giúp bạn nắm bắt các phương pháp quản lý nguồn nhân lực hiệu quả. Cuối cùng, bài viết 2 luận án phát triển nguồn nhân lực quản lý đơn hàng tại các doanh nghiệp may việt nam sẽ cung cấp thêm thông tin về phát triển nguồn nhân lực trong ngành may mặc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý lao động.