CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CHO THUÊ LAI LAO DONG VA PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE CHO THUE LAI LAO DONG 1.1 Một số vấn đề lý luận về cho thuê lại lao động 1. Khái niệm và đặc điểm cho thuê lại lao động 1. Khai niệm cho thuê lại lao động Trên thế giới, cho thuê lại lao động là một hình thức cung ứng nhân lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh và được áp dụng ngày càng pho biến ở nhiều nước. Khi sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu thuê lại lao động cũng tăng theo tỷ lệ thuận.
Tại Việt Nam thì trước năm 2012, hoạt động này đang còn rất mới. Theo đó tại Quyết định số 25/QD-TTg ngày 07/1/2008 về VIỆC giao triển khai nhiệm vụ soạn thảo Bộ luật lao động sửa đôi cho cơ quan chủ trì là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ngày 06/9/2011, Bộ đã có báo cáo số 68/BC-LDTBXH trình Thủ tướng Chính phủ về việc tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật lao động, làm tiền đề cho việc sửa đôi một cách cơ bản, toàn diện Bộ luật lao động trình Quốc Hội khóa 13 kỳ họp thứ 3 thông qua. Lần đầu tiên một số khái niệm liên quan đến hoạt động “cho thuê lại lao động” đã được các cơ quan chức năng nghiên cứu, xem xét đưa vào mục “van dé mới” của báo cáo mà qua thực tiễn thấy rang Bộ luật lao động năm 1994 và các văn ban sửa đổi trước đó chưa quy định (chưa điều chỉnh) như: “Vấn đề cho thuê nhân viên và dịch vụ cho thuê nhân viên (Laboursub-leasing, Dispatching work)”; van đề “Cho thuê lại lao động” (Labour outsourcing); van đề “Lao động không tron thời gian (part time)”. Về sau này, chúng ta biết đến một khái niệm sử dụng thống nhất là “cho thuê lại lao động” ké từ Bộ luật lao động năm 2012.
Như vậy, dé xem xét toàn diện hơn ở góc độ khái niệm, chúng ta còn thấy một số nước trên thế giới dùng dưới nhiều tên gọi khác như “lao động cho thuê tạm thời”; “lao động phái cử”; “cung ứng lao động”. Như vậy, khái niệm cho thuê lại lao động đã được dùng tương đối phổ biên tại các nước có nên kinh tê thị trường phát triên trước khi đưa vào ap 10 dụng tại nước ta. Qua các tài liệu nghiên cứu của các chuyên gia thì tại Đức, hoạt động cho thuê lại lao động đã diễn ra rất lâu đời, có từ những thập niên 60 - 70 của thé kỷ 20. Các nước khác như Mỹ, Nhật Ban, Hàn Quốc cũng có lịch sử áp dụng tương tự.
“Tại Mỹ không có luật liên bang về cho thuê lại lao động. Nhưng một số tiểu bang có luật trong lĩnh vực này”. “Tai Nhật, hoạt động cho thuê lại lao động rất phát triển. Hoạt động cho thuê lao động được cho phép khi Luật về thuê lại lao động (Luật số 88) được ban hành vào năm 1985”.
Tại Hàn Quốc cũng ban hành luật cho thuê lao động năm 1998. Các nước gần Việt Nam như Trung Quốc cũng đã quy định trong một chương của Luật hợp đồng lao động. Việc Việt Nam lần đầu tiên sử dụng khái niệm cho thuê lại lao động trong Bộ luật lao động năm 2012 đã phan nao thé hiện qua trình hội nhập về lĩnh vực lập pháp sâu rộng dé đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn. Trong thực tẾ, qua một số báo cáo của các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại nhiều địa phương thì việc quy định mới trong Bộ luật lao động về hoạt động cho thuê lại lao động không đồng nghĩa với việc từ năm 2012 trở đi, hoạt động này mới diễn ra mà trước đó đã xuất hiện “bán công khai” từ những năm 2000 nhưng không thông tin với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, dẫn đến phát sinh nhiều hình thức tranh chấp.
Theo báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Bộ luật lao động năm 1994 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội thì “hoại động cho thuê lại lao động tuy không được phép, nhưng hàng loạt các doanh nghiệp vẫn tiếp tục cung cấp dịch vụ cho thuê lại lao động, trong đó có các tên tuổi lớn trong lĩnh vực nhân sự ở Việt Nam như Navigos, L&A, Man Power. Các doanh nghiệp có nhu cau sử dung dịch vụ thuê lại lao động cũng ngày càng nhiễu, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất gia công theo tinh thời vụ, doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài”. Do đó, nhu cầu cấp thiết là cần phải có sự điều chỉnh và luật hóa hoạt động cho thuê lại lao động. 3 Nguyén Xuân Thu (2011), Cho thué lại lao động- Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong nên kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
* Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011), Báo cáo tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật lao động số 68/BC-LĐTBXH ngày 06/9/2011, tr. 11 Vay cho thuê lai lao động là gi? Xét vé mat cau tric ngữ pháp, “cho thuê lai lao động” được xem là một cụm từ chỉ hoạt động, phải có ít nhất 3 chủ thể cùng tham gia. Xét về mặt nội hàm, cho thuê lại lao động cần được hiểu dưới góc độ là việc NSDLD này (doanh nghiệp cho thuê lao động) cho NSDLD khác thuê lại NLD của mình (bên thuê lại lao động) trong một thời gian nhất định theo hợp đồng dịch vụ (hợp đồng cho thuê lại lao động) đã được ký kết giữa hai bên. Theo đó, NSDLĐ thuê lại có quyền sử dụng, quản lý điều hành đối với NLD đó và phải trả phí dịch vụ cho doanh nghiệp cho thuê lao động.
Mối quan hệ tương hỗ ở đây được thé hiện đồng thời ở 3 mối quan hệ, quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động, quan hệ lao động giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động với NLĐ và mối quan hệ sử dụng lao động giữa bên thuê lại lao động và NLĐ. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong các quy định về việc làm tạm thời (Khuyến nghị việc làm 198) và quy định về tô chức việc làm tư nhân (Công ước 181 và Khuyến nghị 188)” cũng đã gián tiếp thừa nhận hoạt động cho thuê lại lao động, bao gồm “những tổ chức việc làm tư nhân tuyển lao động và cung ứng cho bên thứ ba. Bên thứ ba này sé giao việc và giám sát NLD trong việc thực hiện công việc được giao an Tuy nhiên, mức độ chap thuận giữa các quốc gia lại khác nhau. Có quốc gia thì chấp thuận việc doanh nghiệp tuyén dụng NLD dé vào doanh nghiệp làm việc nhưng trong quá trình sử dụng có thé cho doanh nghiệp khác thuê lại, có quốc gia thận trọng hơn thì chỉ chấp thuận cho thuê lại lao động với tư cách là hoạt động kinh doanh, đó là NLĐ khi được tuyển dụng sẽ không làm việc cho doanh nghiệp mà đi làm việc cho doanh nghiệp khác.
Từ phân tích trên đây, qua xem xét khái niệm vé cho thuê lại lao động theo pháp luật Việt Nam hiện hành: “Cho thué lai lao động là việc NLD da được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho NSDLD khác, chịu sự điều hành của NSDLĐ sau và > Mai Đức Thiện (2011), Hoạt động cho thuê lại lao động với việc sửa đổi Bộ luật lao động tại Việt Nam, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr. ° Mai Đức Thiện, tlđd chú thích 21, tr. 12 van duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.” Ta có thê thấy: “Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức cho thuê lại lao động với tư cách là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp””.
Đặc điểm cho thuê lại lao động Tại Việt Nam, thị trường lao động những năm gần đây trở nên cực kỳ sôi nổi ké từ khi có quy định về cho thuê lại lao động trong Bộ luật lao động năm 2012. Qua nghiên cứu, chúng ta thấy hoạt động này có các đặc điểm nhận biết dé có thé dé dang phân biệt sau đây: Thứ nhất, cho thuê lại lao động là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, chỉ hình thành và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Nếu trong nên kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sức lao động không được công nhận là hàng hóa, vậy nên không ai được trao đôi, mua đi bán lại. Khi nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa xuất hiện, việc thương phẩm hóa sức lao động đã nảy sinh như một nhu cầu khách quan và tất yêu.
Khi đó sức lao động chịu sự tac động của quy luật cung cầu. “Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, lý luận về hàng hóa sức lao động vừa không gây cản trở đối với địa vị chủ nhân của NLĐ, vừa không phá bỏ phương thức phân phối theo lao động mà các nước xã hội chủ nghĩa đã theo đuôi. Điều khác biệt chỉ là ở chỗ nó phản ánh các quan hệ kinh tế khác nhau”. Thứ hai, cho thuê lại lao động có sự tham gia giữa ba chủ thể (NLĐ, doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động) trong mối quan hệ ba bên vừa có đặc điểm cơ bản của quan hệ thương mại và vừa có đặc điểm của quan hệ lao động (quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại, quan hệ lao động theo hợp đồng lao động và quan hệ sử dụng lao động).
Đặc điểm này chính là bản chất cơ bản của cho thuê lại lao động. Theo đó, giữa doanh nghiệp cho thuê lại lao động và NLĐ luôn tồn tại mối quan hệ lao động dưới hình thức giao kết hợp đồng lao động — một 7 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật lao động năm 2012 (khoản 1 Điều 53) Š Lưu Bình Nhưỡng (2015), “Bình luận khoa học Bộ luật lao động 2012”, Nxb. lao động, tr. ? Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998), Đại tir điển kinh tế thị trường, Nxb.
Từ điện Bách khoa, Hà Nội, tr. 1056, trích trong tài liệu: Viện nghiên cứu lập pháp (2011), M⁄Ó: số khái niệm về lao động và thị trường lao động, tại địa chỉ: http://vnclp.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_Detail.aspx?ItemID=57 ngày truy cập 15/06/2017. 13 quan hệ làm công ăn lương, chịu sự điều chỉnh của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.