CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu tạo tổ chức học của răng Răng cấu tạo gồm: Men răng, ngà răng, tủy răng, xương răng. Men răng Men răng có nguồn gốc ngoại bì, là tổ chức cứng nhất của cơ thể, có tỷ lệ muối vô cơ chiếm 96% nhiều hơn so với ngà răng và xương răng, chất hữu cơ chiếm 1,7%, muối chiếm 2,3%. - Về mặt lý học: Men răng cứng, ròn, trong và cản tia X, với tỷ trọng từ 2,9 tới 3.
Men răng phủ toàn bộ thân răng dày nhất ở núm răng và mỏng dần về phía cổ răng. Ở trạng thái bình thường thì men trong suốt, song men có thể thay đổi màu sắc do có một số yếu tố tác động khác. - Về mặt hóa học: Men răng chứa 90 – 96% là chất vô cơ, chủ yếu là 3[(PO4)2Ca3]Ca(OH)2 (Hydroxy apatit), 3[(PO4)2Ca3]2H2O (phốt phát 3 canxi ngậm nước) còn lại là một lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu được của muối cacbonat Mg (2%) lượng nhỏ Clorua, Florua và sufat của Kali, Natri. Thành phần hữu cơ là 1,7% trong đó Protit chiếm một phần quan trọng.
- Về cấu chúc tổ chức học: Quan sát trên kính hiển vi thấy 2 loại đường vân: o Đường Retzius: Trên tiêu bản cắt ngang thân răng là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như 4 với đường ranh giới men ngà ở phía trong chúng cách nhau bởi những khoảng cách không đều nhau. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng đường Retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như với mặt ngoài của men tạo thành một góc nhọn. Những đường Retzius này dày mỏng không đều tương ứng với giai đoạn ngấm vôi kém trong quá trình tạo men, trong đó có một đường đậm rõ nhất là đường ranh giới giữa lớp men được hình thành khi trẻ còn ở trong bụng mẹ và lớp men hình thành khi trẻ sinh ra. o Trụ men: Là đơn vị cơ bản tạo nên lớp men răng, chạy suốt theo chiều dày của men từ đường ranh giới men ngà cho đến bề mặt của men răng và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng.
Khi cắt ngang trụ men thấy tiết diện của nó có hình nhiều cạnh hoặc hình bầu dục, hình vảy cá (57%) hình lăng trụ (30%) một số ít không rõ ràng (10%). Đường kính của trụ men thay đổi từ 3 đến 6 μm, hướng đi của trụ men tạo ra các giải sáng tối xen kẽ nhau mà ta gọi là giải Hunter-Schreger. Ngà răng Ngà răng được bao phủ phía ngoài bởi men răng và xương răng, ngà là tổ chức ít rắn hơn và chun giãn hơn, không ròn và dễ vỡ như men. Thành phần vô cơ của ngà chiếm 70% và chủ yếu là Hydroxy apatit 3[(PO4)2Ca3]2H2O.
Nước và chất hữu cơ chiếm 30% chủ yếu là Collagene. Về tổ chức học ngà răng được chia làm 2 loại: 5 - Ngà tiên phát: Chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng. Bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tome. o Ống ngà chính xuất phát từ bề mặt của tủy chạy suốt theo chiều dày của ngà đến đường ranh giới men ngà.
o Ống ngà phụ là những ống nhỏ của nhánh bên, nhánh tận của ống ngà chính hoặc là những nhánh nối giữa các ống ngà chính. o Ống ngà số lượng từ 15 đến 50.000/1mm2, đường kính ống ngà khoảng 3-5 μm, ống ngà chính chạy suốt chiều dày của lớp ngà và tận cùng ở đường ranh giới men ngà. - Ngà thứ phát: Được sinh ra khi răng đã hình thành. Bao gồm: ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.
o Ngà sinh lý: Được hình thành liên tục trong suốt thời gian tồn tại của răng với nhịp độ rất chậm so với ngà tiên phát. o Ngà phản ứng: Là biểu hiện phản ứng của tủy đối với quá trình sâu răng, sang chấn hoặc quá trình làm mòn răng. Ngà này thường khu trú ở một vùng tổn thương ít ngấm vôi và ít cản quang hơn so với ngà tiên phát. o Chất giữa ống ngà: Được hình thành bởi sự ngấm vôi, thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi, chủ yếu là sợi keo sắp xếp thẳng góc với ống ngà.
o Dây Tomes: Nằm giữa ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo ngà, nó đảm bảo sự trao đổi chuyển hóa và khả năng tạo ngà. Tủy răng Là một tổ chức liên kết nằm trong hộp cứng ngà thân răng, ngà chân răng và được thông với bên ngoài bằng lỗ cuống răng. Về tổ chức học: Tủy răng chia thành 2 vùng: vùng giữa tủy và vùng cạnh tủy. - Vùng giữa tủy: Là tổ chức liên kết gồm nhiều tế bào và ít tổ chức sợi, có nhiều mạch máu và bạch huyết.
- Vùng cạnh tủy: Gồm có lớp tế bào tạo ngà và lớp không có tế bào là những tổ chức sợi keo. Cement chân răng Là tổ chức canxi hóa bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc cement được chia làm 2 loại: - Cement tiên phát: Ở sát lớp ngà vùng cổ răng và là loại cement không có tế bào. - Cement thứ phát: Có tế bào tạo cement bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng. Độ dày của cement thay đổi theo vị trí và tuổi, mỏng ở vùng cổ răng và dày hơn ở vùng cuống răng.
Sơ đồ cấu tạo răng. Đặc điểm bộ răng trẻ em. Bộ răng trẻ em ở độ tuổi 6-12 là bộ răng hỗn hợp, chúng mang những đặc điểm của răng sữa và răng vĩnh viễn. Vì thế, trên cùng một bệnh nhân, chúng ta có thể gặp những thương tổn của cả hai loại răng này.
Đây là một đặc điểm tạo nên sự phong phú, đa dạng về bệnh cảnh trên lâm sàng. Bộ răng hỗn hợp: Trong thời điểm tồn tại bộ răng hỗn hợp, các răng vĩnh viễn của trẻ em đã đảm nhiệm chức năng như ở người lớn tuy nhiên chúng vẫn có sự khác biệt với răng vĩnh viễn với răng vĩnh viễn của người lớn, những đặc điểm này gồm có: - Chân răng chưa hình thành đầy đủ, vùng cuống chưa được đóng kín. 8 - Buồng tủy rộng, sừng tủy cao. - Các ống ngà rộng, khả năng phản ứng và tái tạo nhanh chóng.
Bệnh sâu răng 1. Đặc điểm sâu răng ở trẻ em Việc chưa hoàn thiện cấu trúc đã tác động không nhỏ tới sự phát triển bệnh sâu răng và làm tăng các biến chứng của nó. Các răng vĩnh viễn thường phải sau 2 năm mới ngấm vôi xong hoàn toàn. Vì thế, tổn thương sâu răng ở trẻ thường tiến triển nhanh so với người trưởng thành.
Chân răng chưa hình thành và vùng cuống chưa được đóng kín tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhập sâu hơn vào tổ chức quanh răng, gây ra những biến chứng: viêm tủy, viêm quanh cuống, viêm mô tế bào,… khiến cho trẻ đau đớn, khó chịu, khó tập trung vào học tập. Tình hình sâu răng ở trẻ em Sâu răng là một bệnh phổ biến và thường mắc từ giai đoạn đầu sau khi răng mọc ở trẻ em. Tổ chức cứng của răng bị phá hủy tạo thành lỗ sâu trên răng. Sâu răng ở trẻ em được chia ra thành 2 dạng đó là sâu răng sữa và sâu răng vĩnh viễn.
Sâu răng là bệnh tổn thương không hồi phục do đó nếu sâu răng mà không được chữa trị triệt để và dự phòng kịp thời, đúng cách thì tỷ lệ răng sâu sẽ lũy tích ngày càng cao. Việc chữa răng là khá tốn kém nhưng cũng không thể nào phục hồi được như trước đối với tổ chức cứng của răng. Sâu răng nếu không chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể còn gây ra những biến chứng nguy hiểm. 9 Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra 5 mức độ sâu răng dựa vào chỉ số SMTR ở lứa tuổi 12 như sau: Bảng 1.
Phân chia mức độ sâu răng theo chỉ số SMTR của WHO Mức độ SMTR Rất thấp 0,0 – 1,1 Thấp 1,2 – 2,6 Trung bình 2,7 – 4,4 Cao 4,5 – 6,5 Rất cao ≥ 6,6 Tình hình sâu răng trên thế giới hiện nay Nhìn chung về tình hình sâu răng trong giai đoạn những năm 1940 đến 1960 ở tất cả các nước trên thế giới đều khá nghiêm trọng. Hầu hết các nước có chỉ số SMTR ở mức cao, khoảng 7,4 đến 12,0. Đến những năm 1980, thì chỉ số SMTR này ở đa số các nước trên thế giới đã giảm xuống đáng kể. Theo số liệu điều tra của Tổ chức Y tế thế giới năm 2003, chỉ số SMTR của trẻ 12 tuổi trung bình là 2,4 [34].
Ở các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, các nước Bắc Âu… bệnh sâu răng giảm đi rõ rệt do các nước này đã triển khai rộng rãi các chương trình can thiệp với các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu tại cộng đồng. 1 0 Trong đó việc sử dụng hiệu quả Fluor đóng vai trò quan trọng vào thành công này [25, 29]. Ở các nước đang phát triển, do việc tiếp cận với các dịch vụ nha khoa còn hạn chế, răng sâu thường không được điều trị bằng các biện pháp điều trị khắc phục mà thay vào đó là bị nhổ đi từ rất sớm do đau. Do đó, ở những nước này tình trạng mất răng thường gặp ở mọi lứa tuổi.
Trong khi đó ở các nước công nghiệp hóa (có nền kinh tế phát triển) số răng mất và tỷ lệ người mất răng có xu hướng giảm đi đáng kể [34]. Chỉ số SMTR ở trẻ 12 tuổi tại một số nước phát triển cụ thể như trong bảng sau: Bảng 2. Chỉ số SMTR của một số nước phát triển trên thế giới Tên quốc gia Năm SMTR Năm SMTR Thụy Điển 1980 1,7 2005 1,0 Na Uy 1979 4,5 2004 1,7 Mỹ 1980 2,0 2002 1,75 Australia 1982 2,1 2000 0,8 Canada 1979 2,9 1997 2,1 Thụy Sỹ 1980 1,7 2004 0,86 New Zealand 1982 2,0 2005 1,7 Phần Lan 1981 4,0 2000 1,2 Nhật Bản 1979 2,4 1999 2,0 1 1 Tình trạng sâu răng và chỉ số SMTR ở trẻ em còn khá cao và có chiều hướng gia tăng ở hầu hết các nước có nền kinh tế đang phát triển trên toàn thế giới. Tình hình sâu răng trong khu vực Đông Nam Á Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới tại các nước trong khu vực Đông Nam Á: Tại Thái Lan, trẻ em 6 tuổi có tỷ lệ sâu răng vào khoảng 96,3%, DMFT trung bình là 8,1; Còn với những trẻ 12 tuổi, tỷ lệ sâu răng vào khoảng 70% và DMFT trung bình là 2,4 [27, 34].
Tại Phillipin, tỷ lệ sâu răng của trẻ 6 tuổi là 92,0% và DMFT trung bình là 10,1 [24, 34].