Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát chung về thi hành án dân sự 1. Khái niệm thi hành án dân sự Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử đã lý giải một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó với các hiện tượng xã hội khác nhau trong xã hội có giai cấp, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Pháp luật: Là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thức hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị [48, tr.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự chung (qui phạm pháp luật) thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [48, tr. Pháp luật thi hành án dân sự là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật thi hành án dân sự, trước hết cần làm rõ một số khái niệm có liên quan đến khái niệm pháp luật thi hành án dân sự như: khái niệm thi hành, khái niệm tư pháp, khái niệm thi hành án và khái niệm thi hành án dân sự. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [54, tr.
Theo từ điển Luật học thì thi hành án là "giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của toà án nhất định có hiệu lực pháp luật" [37, tr. 8 Việc xác định bản chất của thi hành án dân sự vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn. Dựa trên những luận cứ khác nhau, có quan điểm cho rằng: Quan điểm 1: Thi hành án dân sự là một giai đoạn tố tụng. Thi hành án là gia đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án.
Ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế. Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý. Thi hành án nhằm mục đích thực thi các phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành và thi hành có hiệu qủa trên thực tế. Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử [49, tr.
Theo quan điểm này thì thi hành án là giai đoạn nằm trong quá trình quyết vụ án, theo đó giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn thi hành án là giai đoạn xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trên thực tế. Căn cứ duy nhất để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật. Tính lệ thuộc của thi hành án vào công tác xét xử được thể hiện ở việc khẳng định xét xử là tiền đề của thi hành án. Trong quá trình thi hành án, vai trò của Tòa án gắn chặt với hoạt động của thi hành án, thể hiện ở trách nhiệm của Tòa án trong việc hoãn thi hành án trong thời gian luật định, hay “xem xét, kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng” khi cơ quan thi hành án kiến nghị.
Hậu quả pháp lý của việc xem xét theo trình tự này có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành án của cơ quan thi hành án. 9 Thi hành án với quan điểm này, được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quan điểm 2: Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp. Theo quan điểm này quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi tòa án ra phán quyết nhân danh nhà nước.
Trong đó tòa án đã xác định quyền và nghĩa vụ của các bên còn việc thi hành các phán quyết là một gia đoạn khác, không phụ thuộc vào quá trình tố tụng. Thi hành án không phải là gia đoạn tố tụng bởi vì: Thi hành án có mục đích là khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [28, tr. Cùng quan điểm trên PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, bởi lẽ hoạt động thi hành án có tính chất chính trị, pháp lý, xã hội của nó. Nghiên cứu hoạt động thi hành án hiện nay cần đặt trong vấn đề để xây dựng nhà nước pháp quyền.
Xét về bản chất, hoạt động thi hành án được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu sau: - Xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình thi hành án. - Tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án; - Đặc thù trong các quan hệ về thủ tục thi hành án. Quan hệ thủ tục thi hành án có thể bao gồm cả quan hệ tố tụng và quan hệ 10 khác mang tính hành tính- tư pháp. Nhưng cần khẳng định rằng các quan hệ mang tính hành chính - tư pháp chủ yếu hơn.
Thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực, một số công việc Nhà nước có thể xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện xã hội hóa hoạt động này.Đây là điều khác so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không có xã hội hóa. Cùng quan điểm, TS. Đinh Trung Tụng cũng cho rằng: Thi hành án không mang tính chất tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành chính- tư pháp.
Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực hiện thi hành án. Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang tính hành chính- tư pháp hơn. Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính - tư pháp.
Điều này thể hiện ở một số điểm sau đây: - Cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Toà án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng); - Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành án, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ 11 quan thi hành án hoãn việc thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tuy nhiên, thi hành án lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự đối với thi hành án dân sự. Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả.
Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một đặc trưng chứng tỏ nó không đơn thuần là hoạt động tố tụng thuần tuý. Bên cạnh các chủ thể là Tòa án, Viện kiểm sát, chúng ta có thể thấy các chủ thể tham gia vào giai đoạn thi hành án đông đảo và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng trước đó, ví dụ UBND địa phương nơi người phải thi hành án cư trú; cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án làm việc. - Thi hành án và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau. Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản.
thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành được. Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều. Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả thi sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước.