Luận Văn Thạc Sĩ Về Thực Thi Pháp Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Cục Thuế Tỉnh Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ phân tích thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỔ CHỨC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1. Những vấn đề lý luận về thuế giá trị gia tăng và mô hình cấu trúc của pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.1.1. Bản chất của thuế giá trị gia tăng

1.1.2. Vai trò của thuế giá trị gia tăng

1.1.3. Mô hình cấu trúc của pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.2. Những vấn đề lý luận về tổ chức thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.2.2. Điều kiện thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.2.3. Nguyên tắc, quy trình và các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả trong thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng

1.3. Kết luận Chương 1

2. Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ QUẢNG NINH

2.1. Khái quát về Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh

2.1.1. Cơ cấu tổ chức

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ

2.2. Thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh từ năm 2012 đến 2014

2.2.1. Thực trạng quy định về chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế Quảng Ninh

2.2.2. Thực trạng quy định về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế Quảng Ninh

2.2.3. Thực trạng quy định về căn cứ tính thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế Quảng Ninh

2.2.4. Thực trạng quy định về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế Quảng Ninh

2.2.5. Thực trạng quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế Quảng Ninh

2.2.6. Thực trạng quy định về quản lý thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành tại Cục thuế Quảng Ninh

2.3. Kết luận Chương 2

3. Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ TỈNH QUẢNG NINH

3.1. Đánh giá hiệu quả công tác thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh

3.1.1. Những kết quả đã đạt được

3.1.2. Những mặt còn tồn tại

3.1.3. Nguyên nhân của hạn chế

3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh

3.2.1. Các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng

3.2.2. Các kiến nghị về tổ chức thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng

3.3. Kết luận Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Thi Pháp Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Quảng Ninh

Thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại Quảng Ninh đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước. Luật thuế GTGT được áp dụng từ năm 1999 đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho việc thu thuế. Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật này vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế nhanh chóng của tỉnh. Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp là cần thiết để nâng cao hiệu quả thực thi.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm Của Thuế Giá Trị Gia Tăng

Thuế GTGT là loại thuế đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất và tiêu dùng. Đặc điểm nổi bật của thuế GTGT là tính gián thu, nghĩa là người tiêu dùng cuối cùng là người chịu thuế, trong khi doanh nghiệp là người nộp thuế cho nhà nước.

1.2. Vai Trò Của Thuế Giá Trị Gia Tăng Trong Kinh Tế

Thuế GTGT không chỉ là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nó giúp tạo ra sự công bằng xã hội và khuyến khích tiêu dùng hợp lý, đồng thời bảo vệ sản xuất trong nước thông qua việc đánh thuế hàng nhập khẩu.

II. Thực Trạng Thực Thi Pháp Luật Thuế GTGT Tại Quảng Ninh

Thực trạng thực thi pháp luật thuế GTGT tại Quảng Ninh cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Cục Thuế tỉnh đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu thuế, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong công tác quản lý hóa đơn, chứng từ và sự hiểu biết của doanh nghiệp về luật thuế.

2.1. Đánh Giá Hiện Trạng Quản Lý Thuế GTGT

Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh đã triển khai nhiều biện pháp quản lý thuế GTGT, nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa tuân thủ đúng quy định. Việc quản lý hóa đơn, chứng từ còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng trốn thuế và hoàn thuế khống.

2.2. Những Thách Thức Trong Thực Thi Pháp Luật

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hiểu biết của doanh nghiệp về quy định pháp luật thuế GTGT. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ các quy định, dẫn đến việc thực hiện không đúng, gây thất thoát ngân sách nhà nước.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi Pháp Luật Thuế GTGT

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thuế GTGT tại Quảng Ninh, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía cơ quan quản lý thuế và doanh nghiệp. Việc cải cách quy trình quản lý thuế và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật là rất cần thiết.

3.1. Cải Cách Quy Trình Quản Lý Thuế

Cần cải cách quy trình quản lý thuế GTGT theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt giấy tờ và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.

3.2. Tăng Cường Công Tác Tuyên Truyền Pháp Luật

Cần tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho doanh nghiệp về quy định pháp luật thuế GTGT. Việc nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp sẽ giúp họ thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, từ đó giảm thiểu tình trạng trốn thuế.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Thuế GTGT

Nghiên cứu về thực thi pháp luật thuế GTGT tại Quảng Ninh đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực nhưng cũng không ít vấn đề cần khắc phục. Việc áp dụng các giải pháp đã đề xuất sẽ giúp cải thiện tình hình thu thuế và nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Thực Thi Pháp Luật

Thực thi pháp luật thuế GTGT đã góp phần quan trọng vào việc tăng nguồn thu ngân sách nhà nước tại Quảng Ninh. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cải thiện để đạt được hiệu quả cao hơn.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Thực Tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn thi hành pháp luật thuế GTGT cho thấy rằng sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả thực thi.

V. Kết Luận Và Định Hướng Tương Lai Về Thuế GTGT Tại Quảng Ninh

Kết luận về thực thi pháp luật thuế GTGT tại Quảng Ninh cho thấy cần có những định hướng rõ ràng trong tương lai. Việc hoàn thiện chính sách thuế và nâng cao năng lực quản lý thuế là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.

5.1. Định Hướng Hoàn Thiện Chính Sách Thuế

Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế GTGT để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội. Việc điều chỉnh mức thuế suất và các quy định liên quan sẽ giúp tăng cường hiệu quả thu thuế.

5.2. Tăng Cường Năng Lực Quản Lý Thuế

Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý thuế là rất quan trọng. Cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về thuế cho cán bộ để họ có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỔ CHỨC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Những vấn đề lý luận về thuế giá trị gia tăng và mô hình cấu trúc của pháp luật thuế giá trị gia tăng Trên thế giới, thuế giá trị gia tăng lần đầu tiên được nhắc đến vào năm 1954 bởi một nhà kinh tế học người Pháp – Maurice Lauré, sau đó chính thức được áp dụng lần đầu tại Pháp vào ngày 10/4/1954 và nhanh chóng trở thành một nguồn thu quan trọng, chiếm tới hơn 45% ngân khố quốc gia này. Khai sinh ở nước Pháp, với tính ưu việt của mình, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng khắp ở nhiều nước trên thế giới. Tính đến nay, trên thế giới đã có khoảng hơn 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT, riêng Châu Á kể từ thập niên 80 trở lại đây đã có sự đã có sự gia tăng vượt bậc về số lượng các quốc gia ở châu lục này áp dụng VAT, đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985), Đài Loan (1986), Philippine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam (1999)… Tại Việt Nam, ngày 10/5/1997 Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 đã lần đầu tiên thông qua Luật thuế GTGT và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999.

Trong suốt quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước, Luật thuế GTGT qua từng thời kỳ vẫn bộc lộ những khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ. Chính vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế, Quốc hội đã lần lượt thông qua: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT (2003); Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT (2005); Luật thuế GTGT (2008); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT (2013). Bản chất của thuế giá trị gia tăng Điều 2 Luật thuế GTGT quy định: thuế giá trị gia tăng (thường được gọi theo tiếng Anh là VAT – Value added Tax), là một loại thuế “tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Tổng số thuế tính được qua các khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.

Đây là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến khi sản phẩm hoàn thành và đưa vào thị trường để tiêu dùng. “Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng là đối tượng chịu thuế khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ đó” [21, tr. Xét về bản chất kinh tế, thuế GTGT là thuế gián thu – một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng khi họ tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. “Tính gián thu của thuế GTGT thể hiện qua đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thế là hai chủ thể hoàn toàn khác nhau” [19, tr.

Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh nhưng người thực tế chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ vì số thuế Nhà nước thu được là một bộ phận cấu thành của giá hàng hóa, dịch vụ. Do tính chất gián thu này mà thuế giá trị gia tăng có khả năng điều tiết tiêu dùng xã hội. Đây cũng là một loại thuế đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách, dễ quản lý vì người sản xuất, kinh doanh không phải là người thực tế chịu thuế nên sẽ hạn chế động cơ trốn thuế. Dựa trên bản chất của thuế GTGT có thể thấy loại thuế này thể hiện những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất cho cùng một loại hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất đến tiêu dùng cuối cùng.

Do phạm vi, đối tượng chịu thuế là khá rộng nên với mức thuế suất không cao, ít mức thuế 7 suất song vẫn đảm bảo nguồn thu lớn cho NSNN. Thứ hai, thuế GTGT chỉ thu vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ theo phân đoạn trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khép kín một chu kỳ. Đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các phân đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hóa hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Do đó, “thuế GTGT có thể khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là không trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ” [18, tr.

Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế giá trị gia tăng với những loại thuế gián thu khác. Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất - nhập khẩu chỉ đánh ở khâu xuất hoặc nhập khẩu thì thuế giá trị gia tăng lại đánh ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa. Thứ ba, thuế GTGT có tính trung lập, điều đó thể hiện ở chỗ thuế GTGT không can thiệp sâu vào việc khuyến khích hay hạn chế sản xuất, kinh doanh.

Như vậy, thuế GTGT đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng và khuyến khích phát triển nền kinh tế - xã hội đất nước. Thứ tư, thuế GTGT chỉ thu vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, không thu vào hoạt động tiêu dùng diễn ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia đó, vì vậy thuế GTGT có tác động khuyến khích xuất khẩu, góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Có thể nhận thấy rằng xét trong tương quan so sánh với thuế doanh thu trước đây, thuế giá trị gia tăng được coi là một loại thuế lý tưởng khi thỏa mãn bốn tiêu chuẩn: (i) đơn giản về mặt kỹ thuật, tức là không tạo ra cơ hội 8 trốn thuế: thuế suất áp dụng không ở nhiều mức; (ii) hiệu quả về mặt tài chính, do chủ thể chịu thuế và đối tượng chịu thuế rất rộng; (iii) công bằng về mặt xã hội: cơ chế đánh thuế của nó với mức thuế suất thấp đánh vào các mặt hàng tiêu dùng thông thường và mức cao đánh vào các mặt hàng xa xỉ, nhờ đó nó góp phần vào phân phối lại thu nhập tức là đưa lại kết quả phân phối lại của cải xã hội; và (iv) có tác dụng khuyến khích về mặt kinh tế, tức là có tác động thúc đẩy kinh tế phát triển nhờ vào cơ chế khấu trừ thuế đầu vào và miễn thuế đối với hàng xuất khẩu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Là một loại thuế quan trọng trong hệ thống thuế của nền kinh tế thị trường, thuế GTGT có đầy đủ các vai trò của thuế nói chung, bao gồm: (i) là công cụ tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN; (ii) là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; và (iii) là công cụ hướng dẫn tiêu dùng, điều hòa thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.

Ngoài những vai trò nói trên của thuế nói chung, thuế GTGT còn có một số vai trò riêng như sau: Thứ nhất, thuế GTGT góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn, chứng từ. Thuế GTGT giúp Nhà nước kiểm soát được hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát được hệ thống hóa đơn, chứng từ, khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là trốn thuế. Qua đó, còn cung cấp cho công tác nghiên cứu thống kê những số liệu quan trọng. Thứ hai, thuế GTGT góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý thông qua việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu ngay từ khi nó xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh đó, thuế GTGT quy định hàng hóa xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% và được hoàn thuế GTGT đầu vào 9 “đã khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hóa việt nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hóa tương tự của các nước trên thị trường quốc tế” [18, tr. Thứ ba, thuế GTGT nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả người nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế. Từ đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế.

Việc đăng ký mã thuế cùng với phương pháp khấu trừ thuế đã “buộc cả người mua, người bán thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ trong các hoạt động thanh toán” [18, tr. Cùng với đó, việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung được nguồn thu thuế vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế. Thứ tư, thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Có thể thấy, trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi là một trong những sắc thuế tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đặt ra của chính sách thuế như: tạo được nguồn thu lớn cho NSNN, đơn giản, trung lập, dễ thực hiện và ít bị trốn lậu… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ