Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và hoạt động kinh doanh nghiệp vụ Bảo hiểm cháy nỗ Chương 2: Thực trạng kinh doanh nghiệp vu Bảo hiểm cháy né bắt buộc tại Tổng công ty Bảo hiểm PVI Chương 3: Phát triển hoạt động kinh doanh nghiệp vụ Bảo hiểm cháy nỗ bắt buộc Dé hoàn thành chuyên dé báo cáo thực tập này trước tiên em xin gửi đến các quý thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc dân lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất. Đặc biệt, em xin gửi đến thay Lê Quý Dương- người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất. Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh chị cán bộ, nhân viên của Tổng công ty Bảo hiểm PVI đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại công ty. Cuối cùng em xin cảm ơn các anh chị Ban quản lý dự án của Tổng công ty đã giúp đỡ, cung cấp những số liệu thực tế để em có thể hoàn thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và các Khoa phòng ban chức năng đã tạo cho em có cơ hội được thực tập noi mà em yêu thích, cho em bước ra đời sống thực tế dé áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy. Qua công việc thực tập này em nhận ra nhiều điều mới mẻ và bé ích trong việc kinh doanh dé giúp ích cho công việc sau nay của ban thân. Vì kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện chuyên đề này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ cô cũng như quý công ty. Em xin chân thành cảm ơn! CHUONG 1: CO SO LY THUYET VE BAO HIEM CHAY NO BAT BUOC VA HOAT DONG KINH DOANH NGHIEP VU BAO HIEM CHAY NO BAT BUOC 1.
Khái quát về nghiệp vụ bảo hiểm cháy nỗ bắt buộc 1. Khái niệm Theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 thì Bảo hiểm cháy nỗ là một loại bảo hiểm bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng mà pháp luật quy định. Bảo hiểm bắt buộc quy định tại luật khác đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. - Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ mua bảo hiểm bắt buộc và được lựa chọn tham gia bảo hiểm bắt buộc tại doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai.
- Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán khi tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật. Tại Điều 4 Nghị định 23/2018/NĐ-CP quy định về đối tượng được bảo hiểm cháy, nô bắt buộc là toàn bộ tài sản của cơ sở có nguy hiểm về cháy, nô, bao gồm: + Nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà, công trình; máy móc, thiết bị. + Các loại hàng hóa, vật tư (bao gồm cả nguyên vật liệu, bán thành phâm, thành phẩm). - BH cháy thực chất là loại hình BHTS.
Tuy nhiên do tính chất đặc thù riêng của nghiệp vụ chỉ BH cho những rủi ro cháy đơn thuần và các rủi ro đặc biệt đi kèm, nên trong đơn BH cháy và các rủi ro đặc biệt có một số khái niệm, thuật ngữ sau: - Cháy: theo nghĩa thông thường cháy được hiểu là phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh sáng. - Hoả hoạn: là cháy xảy ra ngoài sự kiêm soát của con người, ngoài nguôn lửa chuyên dùng và gây thiệt hại về người hoặc tài sản. - Sét: là hiện tượng phóng điện từ các đám mây tích điện tác động vào đối tượng BH. - Nô: có nhiêu hiện tượng nô, có 2 loại nô chính: + N6 lý học: là trường hợp nỗ do áp suất trong một thé tích tăng lên quá cao, vỏ thé tích không chịu được áp lực nên bị nô.
Nói một cách khác có thé coi hiện tượng nô là một việc san bằng bat thinh linh sự khác nhau về áp lực giữa hai khối khí. + N6 hoá học: là hiện tượng nỗ do cháy quá nhanh (một phần nghìn hay một phan vạn giây đồng h6) toa ra nhiều sức nóng, sinh ra nhiều hơi. Nghiên cứu các hiện tượng nô hoá học thì thấy có đủ ba dấu hiệu của sự cháy, đó là có phản ứng hoá học có toa nhiệt và phát ra ánh sáng. Vì vay nô hoá học thực chất là hiện tượng cháy nhưng cháy với tốc độ nhanh.
- Don vi rủi ro: là một nhóm TS tách biệt nhóm TS khác, cách nhau một khoảng trống lớn hơn khoảng trồng tối thiểu hoặc có bức tường chống lửa giữa các nhóm TS đó, không cho lửa cháy lan từ nhóm nay sang nhóm khác. Don vi rủi ro còn gọi là rủi ro riêng biệt: rủi ro TS này không ảnh hưởng rủi ro TS khác. - Tén that toan bộ: + Tén thất toàn bộ thực tế: trong BH cháy và rủi ro đặc biệt là TS được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hư hỏng hoàn toàn hoặc số lượng còn nguyên nhưng giá trị không còn gì. + Tổn thất toàn bộ ước tính: là TS được BH bị phá huỷ đến mức nếu sửa chữa phục hồi thì chi phí sửa chữa, phục hồi lớn hơn số tiền BH.
- Tén that bộ phận: là bộ phận của TS bị hư hỏng hoặc bị phá huỷ, thường tồn tại đưới bốn dang: giảm về giá trị, giảm về số lượng, giảm về trọng lượng và giảm về thé tích. Đặc điểm Cháy là một trong số những loại rủi ro gây hậu quả lớn nhất và nặng nề nhất. Bởi vậy trên thế giới hầu hết các công ty BH phi nhân thọ đều triển khai nghiệp vụ này. Ngoài những đặc điểm chung của loại hình BHTS, BH cháy còn có những đặc điêm riêng sau: Thứ nhất: Những tài sản tham gia BH cháy rất đa dạng và phong phú từ máy móc thiết bị vật tư đến hàng hoá thành phẩm, mỗi loại có khả năng gặp hoa hoạn rất khác nhau.
Ngay bản thân một loại TS được làm bằng nguyên vật liệu khác nhau thi khả năng xảy ra hoa hoạn cũng khác nhau. Phạm vi BH hay rủi ro rất dé xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, do sự vô tình hay hữu ý của con người hay do sự biến động của thiên nhiên gây ra. Chính vì vậy nhà BH rất khó phân loại, kiểm soát và đánh giá rủi ro trước khi ký hợp đồng, và khó có thể đưa ra được những biện pháp Đề phòng hạn chế tổn thất một cách có hiệu quả cho những TS tham gia BH. Dé tránh phải bồi thường nhiều cho đối tượng BH và han chế tối thiểu được hiện tượng trục lợi BH cũng như để người tham gia nhận thức chính xác về thực trạng TS của mình, các công ty BH cần có những cán bộ chuyên môn giỏi trong việc đánh giá rủi ro và Đề phòng hạn chế tôn thất góp phần tạo lòng tin cho khách hàng và tăng doanh thu cho nghiệp vụ BH cháy.
Thứ hai: Hoạt động của nghiệp vụ BH cháy mang tính chất kỹ thuật rất phức tạp. Vì đối tượng tham gia BH thường là các TS như: máy móc, nguyên vật liệu, hàng hoá.nên quá trình triển khai sẽ liên quan đến nhiều yếu tố kỹ thuật. Đặc điểm này thé hiện rõ trong từng khâu của nghiệp vụ: xác định giá trị BH, phân chia đơn vi rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro, Đề phòng hạn chế tồn thất, xác định nguyên nhân cháy, giá trị thiệt hại. Thứ ba: Phí BH cháy phụ thuộc vào nhiều yếu tố tăng giảm rủi ro.
Đây là loại hình BH cho đối tượng là TS, và rủi ro cơ bản được BH là rủi ro hoả hoạn, do vậy các yếu tố như: kết cầu của loại TS (vật liệu xây dựng, bao bì), chất lượng TS, cách thức hay khu vực bồ trí TS, các phương tiện PCCC.ảnh hưởng rất lớn đến phí BH. Bởi vì các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến việc gia tăng hay giảm thiểu rủi ro cháy. Nếu khả năng xảy ra rủi ro cháy càng ít thì cả người được BH, nhà BH và xã hội đều có lợi. Người được BH giảm được phí, nhà BH giảm được khả năng phải bồi thường, xã hội không ngưng trệ bởi ton that.
Thứ tư: Đối tượng của BH cháy thường là các công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dung , xí nghiệp. Giá trị TS của các đối tượng này rất lớn nên số tiền BH rất lớn. Mức độ thiệt hại do hoả hoạn gây ra đôi khi mang tính thảm hoạ. Do vậy khi triển khai nghiệp vụ BH này các công ty BH đồng thời phải nghĩ ngay đến việc thực hiện TBH để phân tán rủi ro và các nghiệp vụ bổ sung như: BH giản đoạn kinh doanh, BH trách nhiệm đối với thiệt hại người thứ ba.
Bên cạnh đó trong nghiệp vụ này các công ty cũng phải đặc biệt quan tâm đến nguồn tài chính dự trữ dự phòng. Mặc dù có thé xác định khá chính xác phí BH nhưng do các vụ cháy xảy ra không đúng quy luật nên biên độ dao động tôn thất của nghiệp vụ là khá lớn, hậu quả không lường trước được. Do vậy việc duy trì và đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng dao động lớn là rất quan trọng. Như vậy trong quá trình triên khai nghiệp vụ BH cháy và các rủi ro đặc biệt, doanh nghiệp BH cần chú ý những đặc điểm trên để xây dựng những phương án phòng tránh hữu hiệu, phối hợp với lực lượng cảnh sát PCCC dé kip thoi xu ly trong moi tinh huống, giải quyết nhanh chóng khiếu nại bồi thường.
Điều này mang lai lợi ích cho các doanh nghiệp BH, giúp tiết kiệm được thời gian tiền bạc trong suốt quá trình BH. Vai frò BH cháy là loại hình BHTS, trong đó đối tượng bảo hiểm thường có giá trị BH rat lớn. Khi xảy ra rủi ro hậu quả dé lai rat nặng nề không chỉ riêng đối với cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả xã hội. Vì vậy nghiệp vụ BH cháy né bắt buộc ra đời có ý nghĩa tác dụng vô cùng to lớn.
Đối với người tham gia Bảo hiểm: Thứ nhất, BH cháy khắc phục ton thất từ đó góp phan ôn định cuộc sống sản xuất sinh hoạt của mỗi cá nhân trong cộng đồng.