Đặt vấn đề Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng của ngành nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu người dân hiện nay. Nước ta là một nước nông nghiệp, bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là cần thiết. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến đã gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như ở mô hình chăn nuôi hộ gia đình.
Đối với lợn nái, nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta chưa tốt. Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như: viêm âm môn, viêm tiền đình, viêm âm đạo đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung và viêm vú đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và chất lượng của đàn lợn con. Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết. Vì vậy, các bệnh nhiễm trùng sau khi đẻ, đặc biệt là bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói 2 riêng, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung.
Nhằm đánh giá hiện trạng bệnh sinh sản gây ra trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trang trại ở quy mô công nghiệp, em tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn Bùi Thanh Tiến, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Nắm được quy trình nuôi dưỡng và phòng trị bệnh tại trại. - Đánh giá được tỷ lệ mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái tại trại lợn Bùi Thanh Tiến, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đánh giá được hiệu quả điều trị bệnh. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế. Yêu cầu - Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản.
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Chăm chỉ, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu 2. Vị trí địa lý Trang trại lợn Bùi Thanh Tiến nằm giữa một vùng bát ngát cánh đồng lúa trên địa bàn thôn Hiển Lễ, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, do anh Bùi Thanh Tiến làm chủ trại. Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Vĩnh Phúc, thành phố Phúc Yên là vùng đồi núi bán sơn địa có vị trí địa lý: - Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; - Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên; - Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; - Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Điều kiện địa hình, đất đai Thành phố Phúc Yên có địa hình đa dạng, tổng diện tích là 12.
Có cả nông thôn và đô thị, có vùng đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng, có hồ Đại Lải diện tích 525ha, ngoài ra còn có các đầm hồ khác phát triển các loại hình du lịch. Trại có tổng diện tích đất tự nhiên là: 4. Trong đó diện tích khu chăn nuôi chiếm 1800m2, phần còn lại là khu hành chính và công trình phụ: 1 kho cám, 1 phòng tinh, 1 phòng ăn và nhà bếp. Ao hồ xung quanh trang trại có diện tích là 3,5 ha.
Điều kiện khí hậu thời tiết Trại lợn nằm trên địa bàn xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Là một tỉnh thuộc trung du và miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng của khí 4 hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân - Hạ - Thu - Đông. - Mùa Xuân: Được tính từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, thời tiết ấm áp có mưa phùn, đây là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Nhất là bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, gây bất lợi cho công tác phòng dịch bệnh.
Nhiệt độ trung bình là 20o- 24oC. - Mùa Hạ: Được tính từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch. Thời tiết nắng nóng, oi bức, kèm mưa lớn kéo dài. Mùa này cũng có thể gây ra bệnh do mưa.
Mùa này lợn thường mắc các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm phổi. Nhiệt độ trung bình khoảng 23- 30oC, có khi lên tới 39 - 40oC. - Mùa Thu: Được tính từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch. Thời tiết mát mẻ, ôn hòa thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn.
Nhiệt độ trung bình từ 25 - 29oC. - Mùa Đông: Được tính từ tháng 10 đến tháng 12 âm lịch. Thời tiết lạnh giá, hanh khô, bên cạnh đó lại bị ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc làm cho lợn dễ bị nhiễm lạnh gây tiêu chảy và viêm phổi, nhất là ở lợn con sau cai sữa và lợn chửa kì 2. Nhiệt độ trung bình của mùa này từ 12o - 19oC, thời tiết hanh khô có khi nhiệt độ giảm xuống dưới 10oC, nhiệt độ hạ thấp cũng ảnh hưởng rất lớn tới sự điều tiết thân nhiệt của cơ thể.
Nhiệt độ bình quân trong năm 20o - 24oC, tổng lượng mưa trung bình và khoảng 2.267,8mm/năm, độ ẩm bình quân 70 - 80%. Với điều kiện khí hậu như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho gia súc ở trại phát triển nhưng bên cạnh đó cũng là điều kiện để mầm bệnh phát sinh. Chính vì vậy mà việc xây dựng chuồng trại phải đảm bảo các yêu cầu như ấm về mùa đông, mát về mùa hè, tạo được tiểu khí hậu chuồng nuôi tốt, dụng cụ chăn nuôi đầy đủ để đảm bảo sức khoẻ cho vật nuôi. Điều kiện của cơ sở 2.
Cơ sở vật chất của trang trại Đối với bất cứ một cơ sở chăn nuôi nào cũng vậy, cơ sở vật chất là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định tới sự thành công và chất lượng chăn nuôi. Theo quy trình xây dựng trại gồm có 2 khu đó là khu hành chính và khu sản xuất. + Khu hành chính gồm: nhà ở chính, nơi làm việc, nhà bếp, nhà vệ sinh được quy hoạch gọn gàng và đảm bảo vệ sinh. + Khu sản xuất: Hệ thống chuồng nuôi chia thành 7 chuồng nuôi theo thứ tự từ cổng trại đi vào: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng lợn con cai sữa và 3 chuồng lợn thịt.
Ngoài ra còn có các công trình phụ: - Một kho cám: Dự trữ thức ăn, có các xe đẩy cám để vận chuyển cám đến các chuồng. - Kho thuốc: Chứa các loại thuốc phòng và điều trị cho vật nuôi tại trại. - Phòng tinh: Phòng để pha chế tinh và chứa các dụng cụ lấy tinh, pha tinh và bảo quản tinh. - Khu sát trùng: Mọi công nhân trong trại cho đến khách tham quan đều phải đi qua hệ thống sát trùng.
Trại được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2013 với 4000 m2 cho đến nay trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp giống lợn Yorkshine- Landrace. Trại có hệ thống điện lưới kéo đi khắp các khu sản xuất trong trại đảm bảo cho công tác sản xuất, chăn nuôi, và sinh hoạt hàng ngày cho công nhân. Trại có một máy phát điện dùng để thay thế khi mất điện. Có hệ thống dẫn, thoát nước đảm bảo nước không bị ứ đọng nhất là mùa mưa.
Ngoài ra đầu mỗi chuồng đều có hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió. Các trang thiết bị trong chuồng hiện đại được đầu tư, chuồng bầu và đẻ còn có cảm biến nhiệt độ để biết được nhiệt độ và tùy chỉnh cho phù hợp với chuồng nuôi. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức của trang trại bao gồm: - 1 Chủ trại: Điều hành các công việc chung của trại. - 1 Kỹ thuật trại: Phụ trách các kỹ thuật trên đàn lợn của trại.
- 5 Công nhân và 3 sinh viên: Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các chuồng khác nhau như: chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng hậu bị, chuồng cai sữa và chuồng thịt. Mỗi chuồng đều thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. =>Là trang trại tư nhân với tổng số 200 lợn nái, chuồng nuôi được khép kín chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện đại.
Tất cả các trang thiết bị phục vụ trong chăn nuôi đều được nghiên cứu, tính toán để phù hợp với vật nuôi, luôn đáp ứng và tạo điều kiện môi trường tốt nhất cho sự phát triến của đàn lợn. Với nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi, các công việc như kế toán, kỹ thuật, đều do chủ trại tính toán sắp xếp. Sinh viên thực tập tại trại sẽ được bố trí làm ở chuồng lợn nái sinh sản để rèn luyện các kỹ năng, thao tác nghề cũng như thuận tiện cho việc áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn. Tình hình sản xuất của trại * Công tác chăn nuôi Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn con giống, nuôi lợn thịt và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,0 – 2,3 lứa/năm. Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng úm. Lợn thịt thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sau cai sữa đến lúc xuất bán khoảng 25 tuần với khối lượng trung bình từ 100-120 kg/con.