Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy. Chương 2: Thực tiễn thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy trên địa bản tỉnh Yên Bái. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE CHUC NANG CUA VIEN KIEM SAT TRONG GIAI DOAN TRUY TO DOI VOI CAC VU AN MA TUY 1.
Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố Truy tổ là một giai đoạn tố tụng trong quy trình tố tụng hình sự, bắt đầu từ sau giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra và trước giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân, được đánh dấu bắt đầu bằng việc Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vụ án hình sự kèm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và kết thúc khi Viện kiểm sát nhân dân ban hành một trong các loại quyết định sau: Quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng hoặc Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn trong trường hợp vụ án thuộc trường hợp rút gọn; Quyết định trả hồ sơ vụ án đề điều tra bố sung; Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Khác với việc tham gia và phối hợp cùng các cơ quan khác trong quá trình xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố; điều tra hay hoạt động xét xử, truy tố là một giai đoạn độc lập trong hoạt động tô tụng hình sự và chỉ được thực hiện bởi Viện kiểm sát nhân dân, do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện và chịu trách nhiệm. Hoạt động truy tố của Viện kiểm sát vừa nhằm mục đích kiểm tra lại toàn bộ tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra có thâm quyền đã thực hiện vừa nhằm mục đích cho việc Viện kiểm sát ra các quyết định chính xác, khách quan, toản diện, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng pháp luật, không đề xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm; góp phần tăng cường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp kể cả của bị can cũng như những người có liên quan trong vụ án. Trên cơ sở các Điều 16, Điều 17 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã xây dựng quy định chức năng của Viện kiểm sát trong giai doan truy tố tại các điều 236, điều 237 của Bộ luật, cụ thể như sau: Điều 236.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tô trong giai đoạn truy tổ 1. Quyết định áp dụng, thay đôi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bố sung tài liệu, chứng cứ đề quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bồ sung. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyên vu an dé truy tố theo thâm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Quyét dinh gia han, khong gia han thoi han truy tố, thời hạn ap dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
Quyết định truy tố. Quyét dinh dinh chi, tam dinh chi vu an; quyét dinh dinh chi, tam đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật này [21, tr. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong giai đoạn fruy t6 1.
Khi kiém sat trong giai doan truy tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: a) Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tô chức, cá nhân có thâm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tô tụng vi phạm pháp luật; b) Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tô theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan, tô chức, cá nhân có thầm quyền có trách nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho Viện kiểm sát [21, tr. Những quy định trên tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vai trò, trách nhiệm, thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình sự. Với các quy định mới này, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn truy tố được cụ thê hóa, quy định rõ ràng, minh bạch, bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách chủ động, đúng pháp luật, hiệu quả.
Tuy nhiên để làm rõ các chức năng trên của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và cụ thể trong các vụ án ma túy, tôi xin phân tích cụ thể các chức năng của Viện kiêm sát dưới đây. Nhiém vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tô trong giai đoạn truy tổ Việc xác định khái niệm, phạm vi, nội dung quyền công tố, việc thực hành quyền công tổ là gì có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong khoa học tổ tụng hình sự cả trong lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để xác định chính xác vị trí, vai trò, thầm quyền đặc thù của ngành kiểm sát nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng và trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung. Dưới góc độ ngôn ngữ học, “côøg zó” là một từ ghép Hán — Việt được hình thành bởi hai từ đơn “công” và “2”.
Theo Từ điển Tiếng Việt Việt Nam, “công” có nghĩa là “huộc về nhà nước chung cho mọi người, khác với tr”; “tÕ” có nghĩa “nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác ”; “công tố” là “điều tra, truy tổ, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án ” [38, tr. Quyền công tố là một khái niệm chưa có sự thống nhất về nội hàm từ góc độ khoa học pháp lý cả trên bình diện quốc tế và quốc gia. Tuy nhiên, ở mức độ cơ bản nhất, quyền công tố được định nghĩa như là khả năng sử dụng quyền lực nhà nước đề buộc tội một cá nhân trước Toà án [6, tr. Quyén này được thực hiện bởi các công chức nhà nước là công tố viên (hoặc kiểm sát viên) thuộc các viện công tố (hoặc Viện kiểm sát).
Đây là quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Đức trong bài viết “Quyền công tô và tô chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền”, quan điểm này đã đưa ra khái niệm cơ bản về quyền công tố, trong đó chỉ ra được rằng quan điểm về quyền công tô ở mỗi quốc gia là khác nhau, từ đó dẫn đến việc cách xây dựng mô hình các cơ quan tư pháp, thủ tục tố tụng và cách thực hiện các hoạt động tô tụng tại mỗi quốc gia đều có sự riêng biệt, khải niệm trên đã chỉ ra những đặc điểm chung nhất về quyền công tố trong mô hình nhà nước pháp quyên. 10 Quyền công tố không phải là quyền lực của một cá nhân hay một tổ chức bất kỳ mà trong môi trường Nhà nước pháp quyền, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, tuy nhiên tự bản thân Nhà nước thì không thể thực hiện được quyền này, do vậy Nhà nước giao cho một cơ quan cu thé, trực thuộc Nhà nước thực hành quyền này trên thực tế. Đối với nước ta, kết hợp từ lịch sử và các học thuyết về chủ nghĩa xã hội, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao quyền công tố dé phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Viện kiêm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tải liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội từ đó tiến hành truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [7, tr. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm quyền công tố như sau: Quyển công tô là quyên của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội. Từ điển Luật học giải thích “7c hành quyên công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyên năng pháp lý thuộc nội dung quyên công tô để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điểu tra, truy tổ và xét xử” [29, tr. Như trên đã phân tích, mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nhanh chóng và hợp pháp do vậy kê từ khi một hành vi được xác định là tội phạm xảy ra thì quyền công tố cũng phát sinh và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật (trừ các trường hợp khác mả có căn cứ do pháp luật quy định làm quyên công tổ bị triệt tiêu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật như khi vụ án hình sự bị đình chỉ, có căn cứ dé miễn trách nhiệm hình sự).