Luận văn: Chức năng của VKS trong truy tố vụ án ma túy tại tỉnh Yên Bái

Nghiên cứu chức năng của viện kiểm sát trong truy tố vụ án ma túy tại Yên Bái, luận văn thạc sĩ luật cung cấp cái nhìn thực tiễn và pháp lý.

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2023

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN MA TÚY

1.1. Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

1.1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố

1.2. Một số vấn đề chung về tội phạm ma túy và thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố trong các vụ án ma túy

1.2.1. Đặc điểm của việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố trong các vụ án ma túy

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ CÁC VỤ ÁN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

2.1. Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái và một số đặc điểm riêng về tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái

2.2. Kết quả đạt được trong việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020

2.3. Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân khi thực hiện chức năng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy của hai cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái

2.3.1. Một số hạn chế, khó khăn và vướng mắc

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỨC NANG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ CÁC VỤ ÁN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

3.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật

3.2. Nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ trong áp dụng pháp luật để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

3.3. Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành và sự phối hợp

3.4. Quan tâm hơn về chế độ chính sách đối với cán bộ ngành kiểm sát

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chức năng của Viện kiểm sát truy tố vụ án ma túy

Giai đoạn truy tố là một khâu tố tụng độc lập, giữ vị trí trung tâm trong quy trình tố tụng hình sự, nối liền giai đoạn điều tra và xét xử. Tại đây, Viện kiểm sát (VKS) đóng vai trò chủ đạo, thực hiện chức năng kép được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND. Chức năng này bao gồm thực hành quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp. Mục tiêu cốt lõi là đảm bảo mọi hành vi phạm tội, đặc biệt là trong các vụ án ma túy, phải được xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, và đúng pháp luật. Giai đoạn truy tố bắt đầu khi VKS nhận hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra từ Cơ quan điều tra (CQĐT) và kết thúc khi ban hành một trong các quyết định tố tụng quan trọng: ban hành cáo trạng truy tố bị can, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ vụ án. Việc thực hiện hiệu quả chức năng này không chỉ khẳng định vai trò của VKS mà còn góp phần bảo vệ pháp chế, quyền con người, và lợi ích hợp pháp của công dân, ngăn chặn oan sai và bỏ lọt tội phạm.

1.1. Vai trò kép Thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp

Thực hành quyền công tố là hoạt động VKS nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội. Trong giai đoạn truy tố, hoạt động này thể hiện qua việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can thông qua một bản cáo trạng. Chức năng thứ hai là kiểm sát hoạt động tư pháp, nhằm đảm bảo tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân trong suốt quá trình tố tụng trước đó. VKS kiểm tra lại toàn bộ hoạt động của CQĐT để phát hiện, khắc phục kịp thời các vi phạm, thiếu sót, đảm bảo hồ sơ vụ án đầy đủ, khách quan trước khi chuyển sang Tòa án.

1.2. Đặc điểm pháp lý đặc trưng của các tội phạm về ma túy

Tội phạm về ma túy, được quy định tại Chương XX Bộ luật Hình sự (BLHS), có những đặc điểm pháp lý riêng biệt. Về mặt khách quan, hành vi phạm tội xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, hầu hết có cấu thành hình thức, tức tội phạm hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi. Về chủ thể, đa số là chủ thể thường, nhưng một số tội danh như tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy yêu cầu chủ thể đặc biệt. Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội chủ yếu là lỗi cố ý trực tiếp. Việc xác định chính xác các yếu tố cấu thành tội phạm này là yêu cầu bắt buộc đối với Kiểm sát viên để tránh sai sót trong việc định tội danh và quyết định truy tố.

1.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của VKS theo Bộ luật Tố tụng Hình sự

Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn truy tố tại Điều 236 và 237. Các quyền hạn chính bao gồm: quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu CQĐT truy nã bị can; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu; quyết định khởi tố bổ sung vụ án, bị can; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; ban hành bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; và quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Các quy định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc, giúp VKS thực hiện chức năng một cách chủ động, hiệu quả và minh bạch.

II. Khó khăn thực tiễn khi VKS truy tố các vụ án ma túy

Quá trình thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy, đặc biệt tại địa bàn phức tạp như tỉnh Yên Bái, phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Những trở ngại này đến từ cả yếu tố khách quan và chủ quan, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tiến độ giải quyết vụ án. Các vướng mắc trong hệ thống pháp luật, sự tinh vi của tội phạm, cùng những hạn chế nội tại của ngành đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những giải pháp đồng bộ. Việc nhận diện chính xác các khó khăn này là bước đầu tiên để xây dựng các phương án khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy. Thực tiễn cho thấy, việc chậm có văn bản hướng dẫn thi hành luật mới hay sự phức tạp của các thủ đoạn phạm tội đều là những rào cản lớn cần được tháo gỡ.

2.1. Vướng mắc trong quy định pháp luật và văn bản hướng dẫn

Sự thay đổi của hệ thống pháp luật, đặc biệt là khi BLHS 2015BLTTHS 2015 có hiệu lực, đã tạo ra những khoảng trống nhất định. Trong giai đoạn đầu, việc thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết từ các cơ quan trung ương đã gây lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương. Luận văn chỉ ra, năm 2017, số vụ án ma túy tồn đọng và phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại tỉnh Yên Bái tăng đột biến. Nguyên nhân chính là do sự thay đổi trong chính sách hình sự và sự chờ đợi các hướng dẫn áp dụng thống nhất, nhằm đảm bảo việc truy tố có căn cứ và đúng pháp luật, tránh sai sót có thể xảy ra.

2.2. Thủ đoạn tinh vi của tội phạm ma túy tại địa bàn Yên Bái

Tỉnh Yên Bái có vị trí địa lý là cửa ngõ vùng Tây Bắc, địa hình đồi núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm ma túy hoạt động. Các đối tượng phạm tội ngày càng sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Chúng thường lợi dụng các mối quan hệ gia đình, dòng họ, và sự hiểu biết về địa hình để che giấu hành vi. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho CQĐT trong việc thu thập chứng cứ, và đòi hỏi Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố phải kiểm tra, đánh giá tài liệu một cách hết sức cẩn trọng để không bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.

2.3. Hạn chế về năng lực và sự phối hợp trong hoạt động tố tụng

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác truy tố vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Luận văn đề cập đến tình trạng một số Kiểm sát viên còn ỷ lại vào kết quả điều tra của CQĐT, chưa chủ động thực hiện đầy đủ các quyền năng pháp lý của mình. Việc không bám sát quá trình điều tra, không kiểm tra kỹ lưỡng hồ sơ có thể dẫn đến việc truy tố dựa trên những chứng cứ yếu, thiếu vững chắc. Hậu quả là vụ án có thể bị Tòa án trả hồ sơ, hoặc thậm chí bị hủy án ở cấp cao hơn, làm kéo dài thời gian giải quyết và ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tư pháp.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả truy tố vụ án ma túy tại VKS

Để vượt qua các thách thức và nâng cao chất lượng thực hiện chức năng trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược. Các giải pháp này tập trung vào việc hoàn thiện nền tảng pháp lý, phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ. Trọng tâm là xây dựng một cơ chế hoạt động hiệu quả, nơi các quy định pháp luật rõ ràng, đội ngũ Kiểm sát viên có đủ năng lực và phẩm chất, và công tác quản lý được hỗ trợ bởi công nghệ. Luận văn của tác giả Lý A Việt đã đề xuất một số giải pháp cụ thể, hướng tới mục tiêu cuối cùng là đảm bảo hoạt động truy tố của VKS đối với các vụ án ma túy tại tỉnh Yên Bái nói riêng và cả nước nói chung đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.

3.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự

Một trong những giải pháp nền tảng là tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cần làm rõ hơn nữa các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quy định cụ thể về việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử trong các vụ án ma túy. Việc ban hành kịp thời các thông tư liên tịch giữa VKS, CQĐT, và Tòa án sẽ giúp thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật trên thực tế, hạn chế tình trạng mỗi nơi hiểu một kiểu, gây khó khăn cho quá trình giải quyết án.

3.2. Nâng cao trình độ năng lực nghiệp vụ cho Kiểm sát viên

Con người là yếu tố quyết định. Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố các vụ án ma túy cho đội ngũ Kiểm sát viên. Các chương trình tập huấn cần cập nhật kiến thức về các loại ma túy mới, thủ đoạn phạm tội mới, và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa. Đồng thời, phải đề cao đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, tính chủ động và bản lĩnh của Kiểm sát viên trong việc đưa ra các quyết định tố tụng quan trọng.

3.3. Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành và tổng kết thực tiễn

Sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo VKS các cấp có vai trò hết sức quan trọng. Cần tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ của VKS cấp trên đối với cấp dưới. Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo để tổng kết, rút kinh nghiệm từ những vụ án điển hình, phức tạp. Việc xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm kịp thời sẽ giúp các Kiểm sát viên tránh được những sai sót tương tự, nâng cao chất lượng bản cáo trạng và các quyết định tố tụng khác.

IV. Bí quyết phối hợp liên ngành hiệu quả trong truy tố án ma túy

Hiệu quả của giai đoạn truy tố không chỉ phụ thuộc vào năng lực nội tại của ngành Kiểm sát mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ sự phối hợp với các cơ quan tư pháp khác. Một cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ, đồng bộ giữa VKS, CQĐTTòa án là chìa khóa để giải quyết nhanh chóng, chính xác các vụ án ma túy. Sự phối hợp này phải được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, đảm bảo sự thống nhất về quan điểm, đường lối xử lý, tránh được những mâu thuẫn, bất đồng có thể làm kéo dài vụ án. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và duy trì các quy chế phối hợp cụ thể, rõ ràng, đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong cuộc đấu tranh chung với tội phạm ma túy.

4.1. Gắn kết chặt chẽ giữa VKS và Cơ quan điều tra

Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên phải là mối quan hệ phối hợp và chế ước. VKS cần chủ động tham gia, kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án. Việc "gắn công tố với điều tra" giúp Kiểm sát viên nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra, đảm bảo chứng cứ được thu thập đầy đủ, hợp pháp. Sự phối hợp tốt sẽ hạn chế tối đa việc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố, tiết kiệm thời gian và nguồn lực tố tụng.

4.2. Xây dựng quan hệ phối hợp hiệu quả với Tòa án nhân dân

Sự phối hợp giữa VKSTòa án đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Trước khi quyết định truy tố, VKS có thể tổ chức các cuộc họp liên ngành để trao đổi, thảo luận về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong vụ án. Điều này giúp bản cáo trạng truy tố của VKS có tính thuyết phục cao hơn, giảm thiểu khả năng Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội hoặc trả hồ sơ do thiếu chứng cứ. Sự đồng thuận về mặt quan điểm pháp lý giữa hai cơ quan truy tố và xét xử là cơ sở vững chắc để đưa ra một bản án công minh.

4.3. Phát huy vai trò của các cơ quan tổ chức khác

Cuộc đấu tranh với tội phạm ma túy đòi hỏi sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. VKS cần chủ động kiến nghị các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật. Phối hợp với các tổ chức đoàn thể, phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của ma túy. Việc này không chỉ giải quyết phần ngọn là xử lý tội phạm mà còn góp phần giải quyết phần gốc là giảm nguồn cung và cầu ma túy trong xã hội.

V. Thực tiễn VKS truy tố án ma túy tại địa bàn tỉnh Yên Bái

Việc phân tích thực tiễn thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020 mang lại cái nhìn toàn diện về những kết quả đạt được cũng như các tồn tại cần khắc phục. Số liệu thống kê từ luận văn cho thấy tội phạm ma túy chiếm tỷ lệ rất cao trong cơ cấu tội phạm hình sự tại địa phương, đặt ra áp lực lớn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Mặc dù vậy, VKSND hai cấp tỉnh Yên Bái đã nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận trong công tác truy tố. Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

5.1. Phân tích số liệu thụ lý và giải quyết án giai đoạn 2016 2020

Trong 5 năm (2016-2020), VKSND tỉnh Yên Bái đã thụ lý kiểm sát truy tố 1.803 vụ án ma túy với 2.256 bị can, chiếm 34.26% tổng số vụ án hình sự. Tỷ lệ này cho thấy tỉnh Yên Bái là một địa bàn trọng điểm về ma túy. Đáng chú ý, tỷ lệ giải quyết các vụ án ma túy đã thụ lý luôn ở mức rất cao, trung bình đạt 95.95%. Đặc biệt, năm 2020, tỷ lệ này lên đến 98.24%. Các quyết định truy tố của VKS đều đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật, không có trường hợp nào Tòa án tuyên không phạm tội, và tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung rất thấp.

5.2. Các kết quả nổi bật và bài học kinh nghiệm quý báu

Thành công lớn nhất là việc VKS tỉnh Yên Bái đã đảm bảo truy tố kịp thời, nghiêm minh, không để xảy ra oan sai hay bỏ lọt tội phạm trong các vụ án ma túy. Điều này thể hiện sự nỗ lực của toàn ngành Kiểm sát địa phương, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng bản cáo trạng. Bài học kinh nghiệm rút ra là cần phải tăng cường trách nhiệm công tố ngay từ giai đoạn điều tra, bám sát vụ án để có thể đưa ra các quyết định chính xác trong giai đoạn truy tố. Sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp ủy và lãnh đạo VKS là yếu tố then chốt cho những kết quả này.

5.3. Tác động của đặc điểm địa lý kinh tế xã hội Yên Bái

Tình hình tội phạm ma túy tại tỉnh Yên Bái chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội. Là một tỉnh miền núi, giao thông thuận lợi kết nối các tỉnh biên giới, Yên Bái trở thành địa bàn trung chuyển ma túy lý tưởng. Tốc độ phát triển kinh tế chưa cao, trình độ dân trí không đồng đều, cùng với tập quán sử dụng thuốc phiện ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng là những nguyên nhân làm gia tăng tội phạm. Điều này đòi hỏi công tác truy tố không chỉ dựa trên các quy định pháp luật mà còn phải tính đến các yếu tố xã hội đặc thù.

VI. Hướng đi tương lai cho VKS trong truy tố án ma túy hiệu quả

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và chiến lược cải cách tư pháp, công tác thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy cần có những định hướng phát triển rõ ràng. Tương lai đòi hỏi một sự chuyển mình mạnh mẽ hơn nữa, không chỉ trong tư duy nghiệp vụ mà còn trong cơ chế hoạt động và chính sách đối với cán bộ. Việc dự báo xu hướng tội phạm, chủ động đề xuất hoàn thiện pháp luật và tăng cường hợp tác quốc tế là những hướng đi tất yếu. Mục tiêu là xây dựng một nền tư pháp hình sự hiện đại, công minh, trong đó VKS thực sự là trung tâm của giai đoạn truy tố, đảm bảo mọi quyết định đưa ra đều là lá chắn thép bảo vệ công lý, quyền con người và lợi ích của Nhà nước.

6.1. Định hướng cải cách tư pháp và tăng cường trách nhiệm công tố

Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp nhấn mạnh việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra. Theo đó, VKS phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong tố tụng hình sự. Định hướng này yêu cầu VKS phải nâng cao vai trò, không chỉ là cơ quan phê chuẩn các quyết định của CQĐT mà phải thực sự là cơ quan chủ trì, dẫn dắt hoạt động buộc tội, đảm bảo việc truy tố có căn cứ và đúng pháp luật ngay từ đầu.

6.2. Kiến nghị hoàn thiện chính sách đãi ngộ cho cán bộ Kiểm sát

Luận văn đã đưa ra một kiến nghị quan trọng là cần quan tâm hơn nữa đến chế độ chính sách đối với cán bộ ngành Kiểm sát. Công việc của Kiểm sát viên trong các vụ án ma túy luôn phải đối mặt với nhiều áp lực, nguy hiểm và cám dỗ. Việc có một chế độ đãi ngộ tương xứng, bao gồm lương, phụ cấp và các điều kiện làm việc, sẽ là động lực quan trọng để họ yên tâm công tác, giữ vững liêm chính và cống hiến hết mình cho sự nghiệp bảo vệ pháp luật.

6.3. Dự báo xu hướng tội phạm ma túy và các thách thức mới

Tội phạm ma túy sẽ không ngừng biến đổi với sự xuất hiện của các loại ma túy tổng hợp mới, các phương thức giao dịch tinh vi hơn qua không gian mạng và các thủ đoạn vận chuyển xuyên quốc gia phức tạp. Điều này đặt ra thách thức lớn cho VKS trong việc cập nhật kiến thức, kỹ năng và phương pháp đấu tranh. Trong tương lai, VKS cần chủ động nghiên cứu tội phạm học, tăng cường hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp để đối phó hiệu quả với loại tội phạm mang tính toàn cầu này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Thực hiện chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh yên bái luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy. Chương 2: Thực tiễn thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy trên địa bản tỉnh Yên Bái. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE CHUC NANG CUA VIEN KIEM SAT TRONG GIAI DOAN TRUY TO DOI VOI CAC VU AN MA TUY 1.

Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố Truy tổ là một giai đoạn tố tụng trong quy trình tố tụng hình sự, bắt đầu từ sau giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra và trước giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân, được đánh dấu bắt đầu bằng việc Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vụ án hình sự kèm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và kết thúc khi Viện kiểm sát nhân dân ban hành một trong các loại quyết định sau: Quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng hoặc Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn trong trường hợp vụ án thuộc trường hợp rút gọn; Quyết định trả hồ sơ vụ án đề điều tra bố sung; Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Khác với việc tham gia và phối hợp cùng các cơ quan khác trong quá trình xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố; điều tra hay hoạt động xét xử, truy tố là một giai đoạn độc lập trong hoạt động tô tụng hình sự và chỉ được thực hiện bởi Viện kiểm sát nhân dân, do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện và chịu trách nhiệm. Hoạt động truy tố của Viện kiểm sát vừa nhằm mục đích kiểm tra lại toàn bộ tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra có thâm quyền đã thực hiện vừa nhằm mục đích cho việc Viện kiểm sát ra các quyết định chính xác, khách quan, toản diện, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng pháp luật, không đề xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm; góp phần tăng cường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp kể cả của bị can cũng như những người có liên quan trong vụ án. Trên cơ sở các Điều 16, Điều 17 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã xây dựng quy định chức năng của Viện kiểm sát trong giai doan truy tố tại các điều 236, điều 237 của Bộ luật, cụ thể như sau: Điều 236.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tô trong giai đoạn truy tổ 1. Quyết định áp dụng, thay đôi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bố sung tài liệu, chứng cứ đề quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.

Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bồ sung. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyên vu an dé truy tố theo thâm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Quyét dinh gia han, khong gia han thoi han truy tố, thời hạn ap dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.

Quyết định truy tố. Quyét dinh dinh chi, tam dinh chi vu an; quyét dinh dinh chi, tam đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật này [21, tr. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong giai đoạn fruy t6 1.

Khi kiém sat trong giai doan truy tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: a) Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tô chức, cá nhân có thâm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tô tụng vi phạm pháp luật; b) Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tô theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan, tô chức, cá nhân có thầm quyền có trách nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho Viện kiểm sát [21, tr. Những quy định trên tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vai trò, trách nhiệm, thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình sự. Với các quy định mới này, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn truy tố được cụ thê hóa, quy định rõ ràng, minh bạch, bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách chủ động, đúng pháp luật, hiệu quả.

Tuy nhiên để làm rõ các chức năng trên của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và cụ thể trong các vụ án ma túy, tôi xin phân tích cụ thể các chức năng của Viện kiêm sát dưới đây. Nhiém vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tô trong giai đoạn truy tổ Việc xác định khái niệm, phạm vi, nội dung quyền công tố, việc thực hành quyền công tổ là gì có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong khoa học tổ tụng hình sự cả trong lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để xác định chính xác vị trí, vai trò, thầm quyền đặc thù của ngành kiểm sát nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng và trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung. Dưới góc độ ngôn ngữ học, “côøg zó” là một từ ghép Hán — Việt được hình thành bởi hai từ đơn “công” và “2”.

Theo Từ điển Tiếng Việt Việt Nam, “công” có nghĩa là “huộc về nhà nước chung cho mọi người, khác với tr”; “tÕ” có nghĩa “nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác ”; “công tố” là “điều tra, truy tổ, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án ” [38, tr. Quyền công tố là một khái niệm chưa có sự thống nhất về nội hàm từ góc độ khoa học pháp lý cả trên bình diện quốc tế và quốc gia. Tuy nhiên, ở mức độ cơ bản nhất, quyền công tố được định nghĩa như là khả năng sử dụng quyền lực nhà nước đề buộc tội một cá nhân trước Toà án [6, tr. Quyén này được thực hiện bởi các công chức nhà nước là công tố viên (hoặc kiểm sát viên) thuộc các viện công tố (hoặc Viện kiểm sát).

Đây là quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Đức trong bài viết “Quyền công tô và tô chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền”, quan điểm này đã đưa ra khái niệm cơ bản về quyền công tố, trong đó chỉ ra được rằng quan điểm về quyền công tô ở mỗi quốc gia là khác nhau, từ đó dẫn đến việc cách xây dựng mô hình các cơ quan tư pháp, thủ tục tố tụng và cách thực hiện các hoạt động tô tụng tại mỗi quốc gia đều có sự riêng biệt, khải niệm trên đã chỉ ra những đặc điểm chung nhất về quyền công tố trong mô hình nhà nước pháp quyên. 10 Quyền công tố không phải là quyền lực của một cá nhân hay một tổ chức bất kỳ mà trong môi trường Nhà nước pháp quyền, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, tuy nhiên tự bản thân Nhà nước thì không thể thực hiện được quyền này, do vậy Nhà nước giao cho một cơ quan cu thé, trực thuộc Nhà nước thực hành quyền này trên thực tế. Đối với nước ta, kết hợp từ lịch sử và các học thuyết về chủ nghĩa xã hội, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao quyền công tố dé phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Viện kiêm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tải liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội từ đó tiến hành truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [7, tr. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm quyền công tố như sau: Quyển công tô là quyên của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội. Từ điển Luật học giải thích “7c hành quyên công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyên năng pháp lý thuộc nội dung quyên công tô để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điểu tra, truy tổ và xét xử” [29, tr. Như trên đã phân tích, mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nhanh chóng và hợp pháp do vậy kê từ khi một hành vi được xác định là tội phạm xảy ra thì quyền công tố cũng phát sinh và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật (trừ các trường hợp khác mả có căn cứ do pháp luật quy định làm quyên công tổ bị triệt tiêu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật như khi vụ án hình sự bị đình chỉ, có căn cứ dé miễn trách nhiệm hình sự).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ