Luận văn: Chính sách môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại Thoại Sơn, An Giang

Phân tích thực tiễn chính sách môi trường nông thôn mới Thoại Sơn. Đánh giá hiệu quả, thách thức và đưa ra giải pháp bảo vệ môi trường bền vững.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách môi trường xây dựng nông thôn mới An Giang

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chủ trương bao trùm, thể hiện các mục tiêu trụ cột của phát triển bền vững, bao gồm kinh tế - xã hội – môi trường. Trong đó, việc thực hiện chính sách môi trường được xem là nền tảng cốt lõi, không chỉ giải quyết các vấn đề ô nhiễm cấp bách mà còn hướng đến nâng cao chất lượng sống lâu dài cho người dân. Tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm được lồng ghép như một nhiệm vụ trọng tâm, với mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái, cải thiện cảnh quan và đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Tại tỉnh An Giang, huyện Thoại Sơn được xác định là địa bàn tiên phong, làm tiền đề xây dựng mô hình nông thôn mới nâng cao. Bối cảnh của Thoại Sơn, một huyện có thế mạnh về nông nghiệp, vừa là cơ hội phát triển kinh tế, vừa đặt ra nhiều thách thức về bảo vệ môi trường nông thôn. Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá quá trình triển khai chính sách tại đây cung cấp những bài học thực tiễn giá trị. Quá trình này đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của người dân và việc vận dụng linh hoạt các nguồn lực. Thành công tại Thoại Sơn không chỉ là đạt được các chỉ tiêu cơ học, mà còn là sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cộng đồng, tạo ra một không gian sống xanh, sạch, đẹp và an toàn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.

1.1. Vai trò của tiêu chí môi trường trong phát triển bền vững

Tiêu chí 17 về Môi trường và An toàn thực phẩm trong Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới đóng vai trò then chốt trong việc định hình một nông thôn phát triển toàn diện. Theo Quyết định 1980/QĐ-TTg, tiêu chí này bao gồm nhiều nội dung cụ thể như tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, việc thu gom và xử lý chất thải rắn và nước thải, xây dựng cảnh quan xanh - sạch - đẹp, và đảm bảo an toàn thực phẩm. Việc hoàn thành tiêu chí này không chỉ giải quyết các vấn đề ô nhiễm hiện hữu mà còn trực tiếp cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo ra môi trường sống trong lành cho cư dân. Nó là một cấu phần không thể thiếu của phát triển bền vững, đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Một môi trường nông thôn trong lành còn là nền tảng để phát triển các loại hình kinh tế khác như du lịch sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, góp phần đa dạng hóa thu nhập và tạo ra giá trị gia tăng bền vững cho địa phương.

1.2. Bối cảnh huyện Thoại Sơn trong chương trình mục tiêu quốc gia

Huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, là một địa bàn có vị trí chiến lược, sở hữu tiềm năng lớn về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa. Với diện tích đất canh tác lớn và hệ thống thủy lợi thuận lợi, Thoại Sơn được mệnh danh là vựa lúa của tỉnh. Tuy nhiên, chính hoạt động sản xuất nông nghiệp thâm canh cao đã tạo ra những áp lực không nhỏ lên môi trường, như vấn đề sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, xử lý rơm rạ sau thu hoạch và nước thải sinh hoạt từ khu dân cư. Nhận diện được tầm quan trọng này, tỉnh An Giang đã chọn Thoại Sơn làm huyện điểm đầu tiên để thực hiện mục tiêu trở thành “Huyện nông thôn mới”. Quyết định này đặt ra yêu cầu phải giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường. Việc thực hiện chính sách môi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn trở thành một nhiệm vụ cấp thiết, là phép thử cho năng lực điều hành của chính quyền và sự tham gia của cộng đồng.

II. Thách thức trong thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới

Quá trình triển khai thực hiện chính sách môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn đối mặt với không ít khó khăn. Luận văn của Lê Hiếu Xuyên (2021) nhận định tiêu chí môi trường là “một tiêu chí khó và thiếu tính bền vững”. Nguyên nhân sâu xa đến từ nhiều yếu tố đan xen. Thứ nhất, tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng nghiêm trọng do áp lực từ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và sinh hoạt của người dân. Nước thải từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt chưa qua xử lý là nguồn gây ô nhiễm chính cho hệ thống kênh rạch. Thứ hai, việc quản lý chất thải rắn, đặc biệt là bao bì thuốc bảo vệ thực vật, còn nhiều bất cập. Thứ ba, và cũng là thách thức lớn nhất, chính là nhận thức và tập quán của người dân. Nhiều thói quen canh tác và sinh hoạt lạc hậu, như vứt rác bừa bãi, lạm dụng phân bón hóa học, đã ăn sâu vào tiềm thức, đòi hỏi một quá trình tuyên truyền, vận động kiên trì và đồng bộ để thay đổi. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính để đầu tư vào các công trình hạ tầng môi trường như hệ thống xử lý nước thải tập trung, bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Những thách thức này đòi hỏi phải có các giải pháp toàn diện, kết hợp giữa đầu tư hạ tầng, hoàn thiện thể chế và nâng cao ý thức người dân.

2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước và chất thải rắn

Thực trạng ô nhiễm tại Thoại Sơn phản ánh bức tranh chung của nhiều vùng nông thôn Việt Nam. Ô nhiễm môi trường nước là vấn đề nổi cộm, xuất phát từ nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật từ hoạt động nông nghiệp. Hệ thống kênh rạch, vốn là nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt, đang phải chịu áp lực lớn. Bên cạnh đó, vấn đề chất thải rắn cũng rất đáng báo động. Lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng trong khi hệ thống thu gom và xử lý chưa đáp ứng kịp. Đặc biệt, bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng không được thu gom đúng quy định, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm. Các hoạt động từ làng nghề thủ công và chăn nuôi nhỏ lẻ cũng góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm không khí và nguồn nước cục bộ, tạo thành những thách thức lớn trong việc đạt được các chỉ tiêu của tiêu chí 17.

2.2. Rào cản từ ý thức người dân và tập quán canh tác

Nguyên nhân chủ yếu của các vấn đề môi trường, như tài liệu gốc đã chỉ ra, là do “ý thức, tập quán lạc hậu, kết hợp với các phương thức canh tác chưa phù hợp”. Ý thức người dân về bảo vệ môi trường chung còn hạn chế. Thói quen vứt rác ra kênh rạch, đốt rác tự phát vẫn còn phổ biến. Trong sản xuất nông nghiệp, việc lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu không chỉ gây hại cho môi trường mà còn ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Thay đổi những tập quán đã tồn tại qua nhiều thế hệ là một quá trình lâu dài và phức tạp. Nó đòi hỏi sự kiên trì trong công tác tuyên truyền, vận động, đồng thời phải xây dựng được các mô hình kinh tế hiệu quả, thân thiện với môi trường để người dân thấy được lợi ích trực tiếp. Vượt qua rào cản này là chìa khóa để đảm bảo tính bền vững của các kết quả bảo vệ môi trường nông thôn.

III. Cách thức triển khai chính sách môi trường tại huyện Thoại Sơn

Để vượt qua thách thức, huyện Thoại Sơn đã áp dụng một quy trình triển khai chính sách bài bản và đồng bộ. Quá trình này được thực hiện với sự chỉ đạo quyết liệt từ cấp ủy, chính quyền và sự tham gia tích cực của toàn hệ thống chính trị cũng như người dân. Trọng tâm của phương pháp này là biến các chủ trương, chính sách thành hành động cụ thể tại cơ sở, đảm bảo mỗi mục tiêu đều có lộ trình và giải pháp khả thi. Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia của huyện được thành lập, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng ban ngành, đoàn thể, gắn trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị với kết quả thực hiện các tiêu chí, trong đó có tiêu chí môi trường. Công tác xây dựng kế hoạch được thực hiện chi tiết từ cấp huyện đến cấp xã, dựa trên việc rà soát, đánh giá thực trạng từng địa bàn. Quá trình thực hiện chính sách môi trường không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản mà còn là một cuộc vận động lớn, sâu rộng đến từng hộ gia đình, biến người dân từ đối tượng thụ hưởng thành vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc xây dựng một môi trường sống tốt đẹp hơn. Đây là phương pháp cốt lõi tạo nên thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn.

3.1. Quy trình xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ

Ngay từ khi bắt đầu, huyện Thoại Sơn đã ban hành các văn bản chỉ đạo mang tính chiến lược như Kế hoạch số 181-KH/HU và Đề án số 101/ĐA.BCĐ, xác định lộ trình cụ thể cho từng xã đến năm 2020. Một Ban Chỉ đạo cấp huyện được thành lập, do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, cùng với Văn phòng Điều phối và Tổ công tác giúp việc. Sự phân công nhiệm vụ được quy định rõ ràng: Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm về tiêu chí 17; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lo các vấn đề sản xuất; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đảm nhiệm công tác vận động quần chúng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị đảm bảo chính sách được triển khai một cách thống nhất, tránh chồng chéo. Ở cấp xã, Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới cũng được kiện toàn, trực tiếp điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tại cơ sở, đảm bảo tính hiệu quả và sát với thực tiễn.

3.2. Công tác tuyên truyền và vận động cộng đồng tham gia

Công tác tuyên truyền được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Huyện đã tổ chức các “Lễ ra quân phát động phong trào thi đua” quy mô lớn, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ. Đài truyền thanh huyện xây dựng các chuyên mục riêng về xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, vai trò của các tổ chức đoàn thể được phát huy tối đa. Hội Liên hiệp Phụ nữ với cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, Hội Nông dân vận động cải tạo cảnh quan, Đoàn Thanh niên tổ chức các hoạt động trồng cây xanh. Ủy ban MTTQ Việt Nam lồng ghép nội dung vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Thông qua các mô hình cụ thể như “Ấp tự quản bảo vệ môi trường”, người dân được trực tiếp tham gia bàn bạc, quyết định và thực hiện các công việc liên quan đến cộng đồng, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng.

IV. Hướng dẫn giám sát và điều chỉnh chính sách môi trường hiệu quả

Một trong những yếu tố quyết định thành công trong thực hiện chính sách môi trường tại huyện Thoại Sơn là cơ chế giám sát, kiểm tra và điều chỉnh linh hoạt. Chính sách không phải là một văn bản bất biến mà là một quá trình năng động, cần được theo dõi sát sao để có những thay đổi kịp thời, phù hợp với thực tiễn. Ban Chỉ đạo huyện đã thiết lập một lịch trình kiểm tra thường xuyên, sâu sát đến từng xã, không chỉ để đôn đốc tiến độ mà còn để lắng nghe khó khăn, vướng mắc từ cơ sở. Công tác kiểm tra không mang tính hình thức mà tập trung vào kết quả thực chất, đánh giá tác động của chính sách đến đời sống người dân và môi trường. Qua đó, những cách làm hay, mô hình hiệu quả được phát hiện và nhân rộng, trong khi các tồn tại, hạn chế được chỉ ra để khắc phục. Sự điều chỉnh chính sách được thể hiện rõ qua việc cập nhật Bộ tiêu chí theo từng giai đoạn, bám sát các quy định mới của trung ương và tỉnh. Năng lực quản lý nhà nước về môi trường được nâng cao thông qua việc vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đảm bảo các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới không chỉ đạt được mà còn mang tính bền vững.

4.1. Cơ chế theo dõi kiểm tra và đôn đốc thực hiện

Ban Chỉ đạo huyện Thoại Sơn đã triển khai một cơ chế giám sát chặt chẽ. Hàng tuần, huyện tổ chức các đợt kiểm tra thực tế tại một xã (“mỗi tuần kiểm tra 1 xã”), giúp nắm bắt thông tin nhanh chóng và đưa ra chỉ đạo kịp thời. Hoạt động này không chỉ là giám sát từ trên xuống mà còn là cơ hội đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở. Thường trực Huyện ủy, HĐND, UBND huyện thường xuyên phối hợp kiểm tra, đôn đốc. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền được đề cao; những cán bộ thiếu nhiệt huyết, không hoàn thành nhiệm vụ đều bị xem xét, xử lý. Cơ chế này đã tạo ra một áp lực tích cực, thúc đẩy toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc một cách quyết liệt, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đảm bảo các mục tiêu, đặc biệt là các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường nông thôn, được thực hiện đúng lộ trình.

4.2. Tầm quan trọng của việc điều chỉnh chính sách kịp thời

Thực tiễn cho thấy, bối cảnh kinh tế - xã hội và các quy định pháp lý luôn thay đổi. Do đó, việc điều chỉnh chính sách là tất yếu. Huyện Thoại Sơn đã thể hiện sự linh hoạt khi cập nhật và áp dụng các bộ tiêu chí khác nhau qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu (2011-2015) dựa trên Quyết định 491/QĐ-TTg, và giai đoạn sau (2016-2020) được điều chỉnh theo Quyết định 1980/QĐ-TTg. Sự thay đổi này đòi hỏi các chỉ tiêu về môi trường phải cao hơn và cụ thể hơn, ví dụ như yêu cầu về tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch tăng lên, bổ sung tiêu chí về nhà tiêu hợp vệ sinh và an toàn thực phẩm. Việc nhanh chóng ban hành các kế hoạch, văn bản hướng dẫn mới phù hợp với quy định của cấp trên và thực tiễn địa phương đã giúp quá trình triển khai không bị gián đoạn, đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả của chính sách trong dài hạn.

V. Kết quả thực tiễn chính sách môi trường ở nông thôn mới Thoại Sơn

Nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc thực hiện chính sách môi trường đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận cho huyện Thoại Sơn. Từ một địa phương đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm, diện mạo nông thôn đã có sự thay đổi rõ rệt. Cảnh quan môi trường trở nên xanh, sạch, đẹp hơn. Hệ thống hạ tầng phục vụ bảo vệ môi trường nông thôn được đầu tư xây dựng và nâng cấp. Quan trọng hơn cả là sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của người dân. Cộng đồng đã dần từ bỏ các thói quen lạc hậu, tích cực tham gia vào các hoạt động giữ gìn vệ sinh chung, phân loại rác thải tại nguồn và xây dựng các tuyến đường hoa. Kết quả tổng hợp là huyện Thoại Sơn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, được công nhận là “Huyện nông thôn mới” đầu tiên của tỉnh An Giang, sớm hơn 1 năm so với kế hoạch. Thành tựu này không chỉ là những con số trong báo cáo, mà còn là sự hài lòng và chất lượng cuộc sống được nâng cao của người dân, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xây dựng nông thôn mới gắn liền với bảo vệ môi trường.

5.1. Thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ môi trường

Đến năm 2020, 100% số xã của huyện Thoại Sơn đã đạt chuẩn nông thôn mới. Về tiêu chí môi trường, huyện đã đạt được những kết quả ấn tượng. Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn được quy hoạch và vận hành hiệu quả. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt chuẩn quốc gia. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn đều tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Các tuyến đường giao thông nông thôn được bê tông hóa, hai bên đường được trồng hoa và cây xanh, tạo nên cảnh quan sáng - xanh - sạch - đẹp. Đặc biệt, thông qua việc lấy ý kiến, có tới trên 60% số hộ dân được khảo sát đã bày tỏ sự hài lòng với kết quả xây dựng nông thôn mới. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho hiệu quả của chính sách và sự đồng thuận xã hội.

5.2. Các mô hình tiêu biểu về cảnh quan xanh sạch đẹp

Thành công của Thoại Sơn được đánh dấu bằng nhiều mô hình hiệu quả, có sức lan tỏa rộng. Mô hình “Ấp tự quản bảo vệ môi trường” đã phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, nơi người dân tự tổ chức thu gom rác, khơi thông cống rãnh, giữ gìn vệ sinh chung. Mô hình “Hành lang giao thông thông thoáng, mỗi nhà làm hàng rào cây xanh, cột cờ thẳng tắp” đã biến những con đường làng thành những tuyến đường hoa rực rỡ. Bên cạnh đó, việc liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị với các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Lộc Trời cũng lồng ghép các yêu cầu về canh tác bền vững, giảm thiểu sử dụng hóa chất độc hại, góp phần bảo vệ môi trường đất và nước. Những mô hình này không chỉ giúp hoàn thành tiêu chí 17 mà còn tạo ra một phong trào thi đua sôi nổi trong toàn dân, góp phần xây dựng nếp sống văn minh.

VI. Bài học kinh nghiệm và định hướng chính sách môi trường bền vững

Quá trình thực hiện chính sách môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những bài học này không chỉ có giá trị cho An Giang mà còn có thể áp dụng cho nhiều địa phương khác trên cả nước. Thành công không đến từ một giải pháp đơn lẻ mà là kết quả của một tổng thể các yếu tố: sự lãnh đạo quyết liệt, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, và quan trọng nhất là việc phát huy được sức mạnh của nhân dân. Nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ” đã được vận dụng một cách sáng tạo và hiệu quả. Hướng tới tương lai, mục tiêu không chỉ dừng lại ở “nông thôn mới” mà còn là “nông thôn mới nâng cao”, đòi hỏi các tiêu chí về môi trường phải ở một cấp độ cao hơn, bền vững hơn. Điều này yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường quản lý nhà nước về môi trường, và không ngừng nâng cao nhận thức cộng đồng để bảo vệ môi trường trở thành thói quen, nếp sống của mỗi người dân.

6.1. Đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai tại An Giang

Bốn bài học kinh nghiệm lớn đã được rút ra. Một là, vai trò của người đứng đầu và trí tuệ tập thể là quyết định; phải sâu sát, quyết liệt và gương mẫu. Hai là, phải lựa chọn bước đi, giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, ưu tiên phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập, tạo nguồn lực tại chỗ. Ba là, cần vận dụng linh hoạt các cơ chế về vốn và đầu tư, kết hợp phát triển nông thôn mới với khai thác thế mạnh địa phương như du lịch, nông nghiệp công nghệ cao. Bốn là, phải luôn tin tưởng và phát huy sức mạnh của nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo công khai, minh bạch trong mọi hoạt động, đặc biệt là huy động đóng góp. Những kinh nghiệm này là kim chỉ nam cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

6.2. Hướng tới mục tiêu huyện nông thôn mới nâng cao và bền vững

Đạt chuẩn huyện nông thôn mới chỉ là bước khởi đầu. Mục tiêu dài hạn là xây dựng một nông thôn phát triển toàn diện và bền vững. Để đạt được danh hiệu “huyện nông thôn mới nâng cao”, các yêu cầu về môi trường sẽ ngày càng khắt khe hơn. Định hướng trong giai đoạn tới cần tập trung vào việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt. Cần chú trọng hơn nữa đến các giải pháp công nghệ trong xử lý rác thải, nước thải. Đồng thời, phải tiếp tục đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, xây dựng các mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Việc duy trì và nhân rộng các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, nhằm xây dựng một Thoại Sơn không chỉ giàu về kinh tế mà còn đẹp về cảnh quan, trong lành về môi trường sống.

04/10/2025
Thực hiện chính sáchmôi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Chương trình xây dựng nông thôn mới 1. Nông thôn và nông thôn mới Quan niệm về nông thôn Qua tổng quan tài liệu cho thấy: Tùy thuộc vào từng tiêu chí, cách nhìn nhận ở các quốc gia hay cách tiếp cận nghiên cứu sẽ có những khái niệm khác nhau về “Nông thôn”; nhưng thông thường được so sánh với thành thị. Điển hình, như: Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phương thức: (i) Thành thị được xác định bởi luật, là tất cả các trung tâm của tỉnh, huyện; các vùng còn lại được xác định là nông thôn; (ii) Căn cứ vào mức độ tập trung dân cư sinh sống thành cụm từ đó quan sát xác định vùng thành thị.

Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta sử dụng phương thức thứ nhất để phân biệt khu vực thành thị và nông thôn. Theo Từ điển Tiếng Việt, nông thôn là “Khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị”. Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó nông dân chiếm ưu thế với sản xuất nông nghiệp có tỷ trọng cao. Công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị có sự khác biệt; đối với nông thôn, xã, thôn, bản là cấp quản lý; còn thành thị với cấp quản lý là phường, thị trấn [31].

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nông thôn là vùng lãnh thổ của một nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” [15]. Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cụ thể: “Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”. Khái niệm này, được đề tài sử dụng trong quá trình nghiên cứu các nội dung có liên quan; gồm các đặc trưng về cấp quản lý hành chính là UBND xã; nơi phân bố cư trú của 10 dân cư về mặt không gian là các điểm quần cư nông thôn với phương thức sản xuất có quan hệ trực tiếp với nguồn vốn tự nhiên, nhất là đất đai – tư liệu sản xuất chủ yếu gắn với các hoạt động lao động nông nghiệp chiếm ưu thế. Quan niệm về nông thôn mới Nông thôn mới trước tiên là nông thôn, không phải thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay.

Có thể khái quát theo 7 nội dung cơ bản sau: nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phù hợp; cơ cấukinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng an ninh, trật tự được giữvững[7]. Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời sống văn hóa phong phú, mức sống dân cư được cải thiện thông qua đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường các giá trị phát triển công nghiệp, dịch vụ theo quy hoạch, đảm bảo tính phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; nhưng vẫn giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày05/8/2008 đã nhấn mạnh: Nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch. Trên cơ sở các quan niệm về nông thôn mới, đề tài sử dụng quan niệm được quy định tại Nghị quyết số 26-NQ/TW; theo đó, nông thôn mới là nông thôn được đầu tư đồng bộ các nguồn lực để phát huy được năng lực nội tại theo các định hướng quy hoạch, đảm bảo sự hài hòa giữa các mục tiêu phát triển bền vững; đồng thời, từng bước nâng cao chất lượng sống của dân cư, rút ngắn khoảng cách với khu vực đô thị.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới” với mục tiêu chung: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở 11 các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết được xác định là văn kiện chỉ đạo quan trọng, tạo tiền đề để các cấp chính quyền triển khai công tác xây dựng nông thôn mới. Trong năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới”; khẳng định và bổ sung nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 và Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 với các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là trên 50% số xã đạt chuẩn NTM. Căn cứ tinh thần chỉ đạo của các văn bản Nghị quyết Trung ương, các Bộ, cấp chính quyền địa phương đã triển khai thực hiện theo các tiêu chí phù hợp, cùng với 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới (Bảng 1.

Tiêu chí huyện nông thôn mới 1. Có 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Có tất cả các tiêu chí sau đạt chuẩn theo quy định: TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện được phê 1 Quy hoạch Đạt duyệt 2. Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đảm bảo kết Đạt 2 Giao thông nối tới các xã 2.

Tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy hoạch 100% Hệ thống thủy lợi liên xã đồng bộ với hệ thống thủy lợi 3 Thủy lợi Đạt các xã theo quy hoạch Hệ thống điện liên xã đồng bộ với hệ thống điện các xã 4 Điện theo quy hoạch, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của cả hệ Đạt thống 5. Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3; Đạt Trung tâm y tế huyện đạt chuẩn quốc gia Y tế - Văn hóa - 5. Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện đạt chuẩn, 5 Giáo dục có nhiều hoạt động văn hóa - thể thao kết nối với các xã Đạt có hiệu quả 5. Tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn ≥ 60% Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; hoặc có mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, tổ 6 Sản xuất Đạt chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của huyện.

Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn Đạt huyện đạt tiêu chuẩn 7 Môi trường 7. Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực 100% hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường An ninh, trật tự xã 8 Đảm bảo an toàn an ninh, trật tự xã hội Đạt hội 9. Ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện được kiện toàn tổ chức Đạt Chỉ đạo xây dựng 9 và hoạt động đúng quy định nông thôn mới 9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ