CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN RỪNG 1. Một số khái niệm nghiên cứu Chính sách: Đây là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan đến chính trị và pháp quyền. Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” Theo tôi, chính sách cần được hiểu ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền như nói ở trên. Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách ấy.
Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng. Rừng là hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó có cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để phát triển rừng, cho thuê đất để phát triển rừng, 7 công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác.
Chính sách phát triển rừng: là những sách lược và kế hoạch về rừng, nhằm đạt mục tiêu về quản lý bảo vệ rừng. Vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển rừng trong phát triển KT - XH hiện nay Rừng có vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ sự phát triển rừng môi trường của mỗi quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên rừng, đất rừng khá đa dạng và phong phú, phân bố rộng khắp gần như trên tất cả các tỉnh thành trong toàn quốc. Vì vậy, phát triển rừng có vai trò đáng kể trong trong tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, cũng như đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi cùng với những người làm nghề rừng.
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành 3 loại: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Rừng phòng hộ: được sử dụng để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường. Rừng đặc dụng: để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn là các hệ sinh thái vườn quốc gia, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch. Rừng đặc dụng bao gồm các Vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu văn hóa – lịch sử và môi trường.
Rừng sản xuất: sử dụng để sản xuất, kinh doanh gỗ, các loại lâm sản khác. Nội dung thực hiện chính sách phát triển rừng + Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển rừng: 8 Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển rừng là việc cấn thiết vì quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển rừng là quá trình diễn ra trong một thời gian dài, vì thế các chính sách cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách được chủ động hoàn toàn. Kế hoạch triển khai chính sách phát triển rừng được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan triển khai chính sách đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện.
Kế hoạch triển khai chính sách phát triển rừng bao gồm những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức; cơ chế tác động giữa các cấp thực hiện chính sách. Thứ hai: xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như dự kiến về các cơ sở kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực hiện chính sách; các nguồn lực tài chính, các vật tư văn phòng phẩm. Thứ ba: xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm. Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu.
Có thể dự kiến mỗi bước cho phù hợp với một chương trình cụ thể của chính sách. Thứ tư: lên kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách. Thứ năm: xây dựng dự kiến những nội quy, quy chế trong thực hiện chính sách phát triển rừng bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về 9 trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách. + Phổ biến tuyên truyền chính sách phát triển rừng Nhận thức tuyên truyền bảo vệ rừng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng.
Đối tượng của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về rừng được nhắm đến là lực lượng Kiểm lâm; các cán bộ, công chức, viên chức cấp xã; các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Các nội dung được thực hiện trong công tác tuyên truyền là phổ biến, giải thích những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; những nhiệm vụ của lực lượng Kiểm lâm, của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. trong việc bảo vệ rừng để họ hiểu rõ, động viên họ tự giác làm theo, nhằm đạt được mục tiêu của công tác đề ra. Ngoài ra, còn thường xuyên vận động, giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức, lối sống, nếp sống mới văn minh, tiến bộ; bồi dưỡng kiến thức Khoa học - Kỹ thuật và các kiến thức cần thiết khác nhằm xây dựng thành công đội ngũ Kiểm lâm văn hóa; tham gia xây dựng làng (thôn, ấp, bản) văn hóa, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời đại mới.
Kết hợp chặt chẽ công tác phổ biến giáo dục luật bảo vệ và phát triển rừng; các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng với công tác tổ chức thực hiện pháp luật, các hoạt động tuyên truyền khác, các phong trào vận động quần chúng, với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải đáp các vướng mắc về pháp luật và với công tác hoà giải ở cơ sở; Tiếp tục sửa đổi bổ sung nội dung quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, bản. Tuân thủ chặt chẽ những quy định của 10 pháp luật, kế thừa, phát huy thuần phong mỹ tục, những tập quán tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, động viên khen thưởng kịp thời các cá nhân, đơn vị có thành tích trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục luật bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là những cá nhân trực tiếp thực hiện tuyên truyền phổ biến giáo dục luật bảo vệ và phát triển rừng; các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng cho các đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rất dễ hiểu về tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm.
Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Trong công tác tuyên truyền phải mang tính đại chúng, tính nghệ thuật, diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, giản dị, dễ hiểu, sử dụng linh hoạt sáng tạo các thành ngữ, dân ca… trong hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phương châm kết hợp giữa lời nói và hành động, lý luận gắn liền với thực tiễn. Người chủ trương nói ít, làm nhiều; chỉ nói khi thật cần thiết, nói đúng để làm đúng.
Nhận thức tuyên truyền bảo vệ rừng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng. Đối tượng của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về rừng được nhắm đến là lực lượng Kiểm lâm; các cán bộ, công chức, viên chức cấp xã; các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Các nội dung được thực hiện trong công tác tuyên truyền là phổ biến, giải thích những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; những nhiệm vụ của lực lượng Kiểm lâm, của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. trong việc bảo vệ rừng để họ hiểu rõ, động viên họ tự giác làm theo, nhằm đạt được mục tiêu của công tác đề ra.
11 Ngoài ra, còn thường xuyên vận động, giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức, lối sống, nếp sống mới văn minh, tiến bộ; bồi dưỡng kiến thức Khoa học - Kỹ thuật và các kiến thức cần thiết khác nhằm xây dựng thành công đội ngũ Kiểm lâm văn hóa; tham gia xây dựng làng (thôn, ấp, bản) văn hóa, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời đại mới.