Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ 1. Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo viên dạy nghề 1.1 Một số khái niệm cơ bản a. Chính sách: Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì theo chúng tôi, chính sách được hiều là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung.
Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được “nhào nặn” bởi “bàn tay công quyền”, tức là được ban hành bởi nhà nước theo một trình tự luật định. Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công – nhà nước. Chúng ta vẫn thường nói đến một nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị.
Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò hoạch định chính sách của đảng cầm quyền. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng chính sách là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là người duy nhất có quyền đưa ra chính sách. Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành pháp (Điều này được phản ánh rất rõ trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay, khi người của Đảng được giao nắm các trọng trách và vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước. Đường lối, chính sách của Đảng có thể được copy, được cụ thể hóa trong pháp luật nhưng nó cũng có thể được điều chỉnh, được hoàn thiện 6 trong quá trình thể chế hóa để phù hợp với tư tưởng mới hay đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn xã hội.
Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của Đảng thành pháp luật nhưng cũng là một bước xây dựng và hoàn thiện chính sách. Chính sách công: Trong cuốn sách Khoa học chính trị, Michael G.Roskin định nghĩa "Chính trị học là khoa học về đấu tranh và cạnh tranh quyền lực chính trị". Ví dụ, chính sách cấm vận của Mỹ đối với một quốc gia nào đó là tập hợp những biện pháp đối xử của Chính phủ Mỹ đối với hàng loạt hoạt động của quốc gia này nhằm mục đích đẩy nhanh hay kìm hãm sự phát triển của đất nước này trong khuôn khổ ảnh hưởng của Mỹ, đồng thời khẳng định quyền lực của Mỹ trên trường quốc tế. Chẳng hạn, trong một quốc gia, dù Nội các bị đổ theo sự thay đổi về quyền lực của các tập đoàn chính trị khác nhau, nhưng hàng loạt chính sách đối với dân chúng vẫn không hề thay đổi, ví dụ: Chính sách thu nhập, chính sách thuế, chính sách thương mại… Xét từ tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, chúng ta hiểu: "Chính sách là phương tiện tác động đến hàng loạt sinh hoạt văn hóa và xã hội của con người, từ đây dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách, và hơn nữa, là những kiến tạo xã hội mới do chính sách dẫn đến".
Ví dụ, chính sách thực hành một đường lối kinh tế mở cửa đã dẫn đến những thay đổi rất căn bản trong các sinh hoạt xã hội ở Việt Nam. Với các cách tiếp cận trên đây, có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Từ khái niệm chung về chính sách, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm cụ thể về chính sách công. 7 Nhưng theo quan niệm của Charles O.* Tóm lại từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng” (Nguyễn Văn Thọ- Giáo trình chính sách công-Học viện Chính sách phát triển).
Thực hiện chính sách: Trải qua một quá trình các nghiên cứu về chính sách chỉ ra rất chung chung chưa đua cụ thể hoạch định chính sách roc ràng. Trong thập kỷ 70, các nhà nghiên cứu đã chuyển trọng tâm sang giai đoạn thực thi chính sách. Theo nguyên lý triết học, chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại. Song muốn thực hiện được chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác.
Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai trong đời sống xã hội. Với cách tư duy này có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực hiện chính sách như sau: " Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước" (Nguyễn Văn Thọ- Giáo trình chính sách công- Học viện chính sách phát triển). 8 Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra. Phát triển giáo viên dạy nghề: Phát triển giáo viên dạy nghề bao hàm phát triển năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ của nghề (nghiệp vụ sư phạm) cho giáo viên.
Năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên lại được xác định bởi năng lực thực hiện các vai trò của giáo viên trong quá trình lao động nghề nghiệp của mình. Bản thân các vai trò của giáo viên (gắn liền với chức năng của họ) cũng không phải là bất biến. Nhà trường hiện đại đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo viên, theo đó, người giáo viên phải đảm nhận thêm những vai trò mới. Vài trò người hướng dẫn, tư vấn và chăm sóc tâm lý mà người giáo viên trong nhà trường hiện đại phải đảm nhận là một minh họa.
Phát triển giáo viên dạy nghề bao gồm cả việc mở rộng, đổi mới tri thức khoa học liên quan đến giảng dạy môn học do giáo viên phụ trách đến mở rộng, phát triển, đổi mới tri thức, kỹ năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường. Chính sách phát triển giáo viên dạy nghề: Chính sách phát triển là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, cách thức thực hiện và phương pháp quản lý hành chính và ngân sách nhà nước làm cơ sở và tạo môi trường cho phát triển. Thực hiện Chính sách phát triển giáo viên dạy nghề: Thực hiện Chính sách phát triển giáo viên dạy nghề là quá trình triển khai, áp dụng các quy định của Đảng và nhà nước về Chính sách phát triển giáo viên dạy nghề theo kế hoạch và trong thời gian cụ thể theo quy định của từng chính sách. Những vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách phát triển giáo viên dạy nghề 1.
Sự cần thiết phải thực hiện chính sách phát triển giáo viên dạy nghề 1. Sự phát triển của kinh tế xã hội và yêu cầu phải phát triển giáo viên dạy nghề 1. Phát triển giáo viên dạy nghề dựa trên xu hướng tạo dựng thay vì dựa trên mô hình chuyển giao. Theo xu hướng này, giáo viên được coi là những học viên/người học chủ động, là những người tham gia các nhiệm vụ giảng dạy cụ thể, tham gia quan sát đánh giá và tự điều chỉnh.
Phát triển giáo viên dạy nghề là một quá trình lâu dài. Phát triển giáo viên dạy nghề là sự tiếp nối những thành tựu học tập của người giáo viên trước đây với những kinh nghiệm mới mà họ có được trong quá trình lao động nghề nghiệp sau đào tạo. Do đó, những kỹ năng cho phép giáo viên có thể liên kết được những kiến thức trước đây với những kinh nghiệm mới là điều kiện để tiếp tục thường xuyên và tạo ra những thay đổi trong lao động nghề nghiệp của giáo viên. Những kỹ năng này – kỹ năng phát triển nghề nghiệp liên tục phải được chuyển giao cho giáo viên.
Phát triển giáo viên dạy nghề được thực hiện với những nội dung cụ thể. Các nội dung này được hoạch định trong chính môi trường lao động nghề nghiệp, đặc biệt là hoạt động của giáo viên trong từng lớp học. Một dạng hiệu quả nhất của phát triển giáo viên dạy nghề là xác định cụ thể những kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên được hình thành dựa vào trường học, dựa vào hoạt động hàng ngày của giáo viên và học sinh. Trong trường hợp này, trường học được biến đổi thành những cộng đồng của giáo viên và học sinh, những cộng đồng chuyên nghiệp và chu đáo.
Những cơ hội phát triển nghề nghiệp thành công nhất là những hoạt động học tập trong ngành tại các cơ sở giáo dục. Phát triển giáo viên dạy nghề liên quan mật thiết với những thay đổi/cải cách trường học. 10 Do phát triển giáo viên dạy nghề liên quan đến quá trình xây dựng môi trường và không thuần túy chỉ là đào tạo kỹ năng nên nó bị ảnh hưởng bởi sự nhất quán của các chương trình ở trường học. Trong trường hợp này, các giáo viên đã được xác định cương vị là những nhà chuyên nghiệp và do đó, họ sẽ nhận được cách cư xử giống nhau, cách mà họ sẽ phải cư xử như thế với học sinh của mình.
Một chương trình phát triển giáo viên dạy nghề mà không được trường đó/cơ sở giáo dục nghề nghiệp đó hay những người cải cách chương trình ủng hộ thì không thể là một chương trình hiệu quả. Phát triển giáo viên dạy nghề có vai trò giúp/hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng những lý thuyết và thực tiễn sư phạm và giúp họ phát triển sự thành thạo trong nghề. Một giáo viên được coi là một người đang hành nghề có suy nghĩ, một người hành nghề với một cơ sở kiến thức nhất định và là người sẽ lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm mới dựa trên nền kiến thức trước. Phát triển giáo viên dạy nghề là một quá trình cộng tác.
Mặc dù vẫn có những công việc giáo viên thực hiện một cách độc lập nhưng hầu hết các hoạt động trong phát triển giáo viên được coi là có hiệu quả đều diễn ra khi có những tương tác có ý nghĩa.