CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về thuốc Theo Luật Dược, thuốc là chất hỗn hợp của các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin y tế, trừ thực phâm chức năng [18]. Thuốc có nhiều nguồn gốc khác nhau từ thực vật như: Morphin lấy từ nhựa quả cây thuốc phiện, Quinin từ vỏ thân cây quinquina, Atropin từ cà độc dược. Từ động vật như: Insulin từ tuy, progesteron từ tuyến sinh dục, huyết tương bào khô, các vắc xin, các huyết thanh và globulin miễn dịch, các vitamin A, D từ dầu gan cá thu, v.
Từ khoáng vật như: Kaolin, Iode, Mangne Sulfat, v. Từ các thuốc tổng hợp: Sulfamid, Procain, Cloroquin, v. Thuốc là phương tiện đặc biệt, có tác dụng phòng bệnh và chữa bệnh, nhưng với liều lượng cao vượt mức chịu đựng của cơ thể thì thuốc trở nên độc. Nếu không được quản lý chặt chẽ và không sử dụng chính xác về mọi mặt, thì sẽ gây tác hại lớn đến sức khỏe và tính mạng con người [ I].
Sơ lược về thuốc kháng sinh 1. Khái niệm Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi sinh vật [22]. Lịch sử về kháng sinh Kháng sinh lần đầu tiên được phát hiện bởi một sinh viên y khoa người Pháp - Ernest Duchesne vào năm 1896. Cho đến năm 1928, kháng sinh mới được tái phát hiện bởi một bác sĩ người Scotland - Alexander Fleming, ông phát hiện một chủng nam mốc Penicillium trên khuôn đất làm tê liệt nhiều loại vi khuẩn gây bệnh [57].
Năm 1935, Gerhard Domagk phát hiện ra Sulfonamide lần đầu tiên, giúp chống lại bệnh nhiễm trùng liên cầu một cách hiệu quả [28]. Nam 1943, Penicilin được các công ty Dược đưa vào sản xuất hàng loạt. Khi đó, Penicilin đã được phô biến rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ hai, như một phép màu về y tế, nhanh chóng chế ngự kẻ giết người lớn nhất trong chiến tranh - nhiễm khuẩn vết thương [57]. Từ năm 1944, một số lượng lớn các nghiên cứu được thực hiện bởi các công ty Dược phẩm, mang lại nhiều loại thuốc hữu ích [28].
Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều thuốc kháng sinh mới được đưa vào nghiên cứu và ứng dụng, giúp con người chống lại các bệnh nhiễm khuẩn một cách hiệu quả. Cho đến thập niên 70, nhiều loại thuốc kháng sinh mới được phát triển. Tuy nhiên, loại kháng sinh mới cuối cùng được phát triển là vào những năm cuối của thập niên 80 [69]. Phân loại kháng sinh Nếu căn cứ vào cấu trúc hoá học của kháng sinh kết hợp với cơ chế tác dụng của kháng sinh thì có thể chia kháng sinh thành 12 nhóm [1, 3, 4, 16]: Nhóm Befa-lactam: gồm có các kháng sinh trong phân nhóm Penicilin, phân nhóm Cefalosporin, phân nhóm Carbapenem, phân nhóm Monobactam và các chất ức chế beta-lactamese.
Nhóm Ainoglycosid (Aminosid): Streptomicin, Kanamicin, Neomicin, Panomomicin, Gentamicin. Nhóm Macrolid: Erythromycin, Oleandomycin, Roxithromyci, Clarithromycin, Dirithromycin, Azithromycin, Spiramycin,. Nhoém Lincosamid: Lincomycin, Clindamycin. Nhóm Phenicol: Cloramphenicol, Thiamphenicol.
Nhóm Cyclin: Chlortetracycln, Oxytetracycln, Demeclocyclin, Methacyclin, Doxycyclin, Minocyclin. Nhóm Pepiid: gồm 3 phân nhóm: Glycopeptid, Polypetid, Lipopeptid. Nhóm Quinolon: Acid Nalidixic, Cinoxacin, Enoxacin, Ciprofloxacin, Ofloxacin, Pefloxacin, Levofloxacin, Sparfloxacin, Moxifloxacin, Trovafloxacin. Nhom Tetraciclin: Tetraciclin, Oxytetraciclin, Doxycilin, Micociclin.
Nhom 5-nitro-imidazol: Metronidazol, Tinidazol, Ornidazol, Secnidazol. Nhóm Oxazolidinon: Vancomycin. Nhóm Cø-frimoxazol: Là dạng thuốc phối hợp giữa Sulfamethoxazol với Trimethoprim. Vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh an toàn, hợp lý 1.
Định nghĩa sử dụng thuốc hợp lý Hội nghị Nairobi, Kenya năm 1985 đã định nghĩa về sử dụng thuốc hợp lý như sau: “Sử dụng thuốc hợp lý là việc đảm bảo cho người bệnh nhận được các thuốc thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể, trong thời gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho mỗi người cũng như cho cộng đồng của họ”. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý Sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý cần tuân theo các nguyên tắc sau [3, 4, 8, 22]: - _ Đi khám bệnh và dùng kháng sinh theo đơn, hướng dẫn của bác sĩ. Đặc biệt, khi cho trẻ em dùng kháng sinh phải chú ý sự chỉ dẫn của bác sĩ và tuân thủ theo đúng sự chỉ dẫn đó. -_ Chỉ dùng kháng sinh cho nhiễm khuân, không dùng cho nhiễm virus, dùng càng sớm càng tốt.
- _ Dùng kháng sinh phải: đúng liều, đúng lúc, đủ thời gian. *_ Đúng liều: Dùng đủ liều để đạt nồng độ đủ và ôn định, không dùng liều tăng dần. Khi dùng kháng sinh cho trẻ em phải nhớ chú ý liều theo tuôi hoặc cân nặng. v Đúng lúc: trước bữa ăn, trong bữa ăn, sau bữa ăn, thời gian tùy từng loại thuốc và phải tuân theo hướng dẫn sử dụng.
v_ Đủ thời gian: Dùng đủ thời gian trên cơ thể nhiễm khuân, nói chung các nhiễm khuẩn cấp dùng kháng sinh từ 5-7 ngày, các nhiễm khuẩn đặc biệt thì dùng lâu hơn. - Nên mua kháng sinh ở những cơ sở hợp pháp như: hiệu thuốc quốc doanh, hiệu thuốc có đăng ký, nhà thuốc có đăng ký. -_ Khi mua kháng sinh phải yêu cầu người bán ghi rõ tên và hàm lượng thuốc trên từng bao gói riêng biệt. - Cách dùng: *_ Không nên dùng nhiều loại kháng sinh phối hợp, trừ khi thầy thuốc có yêu cầu cụ thể với một số bệnh.
*_ Khi cần phải uống nhiều loại thuốc thì phải pha riêng từng loại, không nên trộn chung. *_ Đối với kháng sinh đường uống, loại nước sử dụng là nước đun sôi để nguội. -_ Trong khi SDKS, nếu thấy hiện tượng khó chịu, buồn nôn, mẫn ngứa phải ngừng thuốc ngay và đến khám lại tại các CSYT. - Nếu dùng kháng sinh 2 — 3 ngày mà không có hiện tượng đỡ bệnh phải báo lại cho cán bộ y tế xem xét, không tự ý thay thuốc khác.
Một số yếu tô liên quan đến sử dụng kháng sinh Một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra một sé yếu tố liên quan đến việc tự điều trị bằng kháng sinh và thực hành SDKS của người dân trong cộng đồng. Yếu tố về tuổi được một số nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan đến việc tự điều trị bằng kháng sinh của người dân trong cộng đồng. Kết quả nghiên cứu của Rositsa Dimova và cộng sự (2014) tại Bulgaria cho thấy việc tự điều trị bằng kháng sinh khá là phổ biến ở những người dưới 20 tuôi, 56% người dưới 20 tuổi tự điều trị bằng kháng sinh (OR: 6,104; 95% CI: 3,445-10,816; P < 0,001) [59]. Kết quả nghiên cứu của Abobakr Abasaeed và cộng sự (2009) tiễn hành tại cộng đồng ở Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cho thấy phương thức SDKS bị ảnh hưởng đáng kế bởi tuổi của đối tượng nghiên cứu (p = 0,014) [25].
Một số yếu tổ như trình độ học vẫn (TĐHV), nghề nghiệp cũng được một số nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan đến việc SDKS. Nghiên cứu của Đặng Thị Minh Hằng (2002) về kiến thức và thực hành SDKS của cá bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại một số xã thuộc huyện Gia Lâm — Hà Nội chỉ ra TĐHV, nghề nghiệp và điều kiện kinh tế là yếu tố ảnh hưởng tới thực hành SDKS [9]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang tại xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (2013) cho thấy: những bà mẹ có TĐHV từ cấp 3 trở lên có kiến thức, thực hành SDKS tốt hơn những bà mẹ có TĐHV từ cấp 2 trở xuống (p <0,05); những bà mẹ có thực hành SDKS tốt là những bà mẹ là cán bộ viên chức (p <0,05) [12]. Nghiên cứu của Dana A Darwish và cộng sự (2012) về SDKS trong cộng đồng người Iraq 6 Jordan chỉ ra rằng hững người có TĐHV thường tin tưởng sự tư vấn của bác sĩ và sẽ không SDKS nếu không có đơn thuốc hơn là những người có TDHV thấp [35].
Nhận thức, kiến thức về kháng sinh và SDKS có sự liên quan mật thiết đối với thực hành SDKS và việc tự sử dụng thuốc của người dân. Nghiên cứu của Larissa Grigoryan và cộng sự tại Châu Âu cho thấy tỷ lệ những người tự SDKS có kiến thức sai về hiệu quả của kháng sinh đối với vi khuẩn và vi rút cao hơn một chút so với những người không tự sử dụng thuốc, mặc dù sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Sự không ý thức được vấn đề kháng kháng sinh cao hơn đáng kể trong số những người tự SDKS so với những người không tự sử dụng thuốc (60% so với 47%, p<0,001) [46]. Nghiên cứu của Đặng Thị Minh Hằng (2002) tại một số xã thuộc huyện Gia Lâm ~ Hà Nội cũng chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức và thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn [9].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang tại xã Đống Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (2013) cũng chỉ ra rằng bà mẹ có kiến thức SDKS đạt thì có thực hành SDKS đạt cao hơn những bà mẹ có kiến thức không đạt (p <0,05) [12]. Bên cạnh đó, tính sẵn có của thuốc kháng sinh cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc tự điều trị của người bệnh. Người bệnh có thê tiếp cận thuốc kháng sinh một cách dễ dàng hoặc mua được trực tiếp từ những nhà thuốc. Nghiên cứu của Larissa Grigoryan và cộng sự tại Châu Âu cho thấy những người tiếp cận được thuốc kháng sinh một cách dễ dàng hoặc đôi khi tiếp cận được thuốc kháng sinh từ các nhà thuốc có nguy cơ cao hơn về việc tự sử dụng thuốc, trong khi những người trả lời "không biết" có nguy cơ thấp hơn [46].
Ngoài ra, một lý do phổ biến của việc tự điều trị là vì bệnh nhẹ [46]. Loại bệnh và mức độ của bệnh cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc SDKS. Nghiên cứu của Larissa Grigoryan và cộng sự tại Châu Âu cho thấy những người tự SDKS có nhận thức sai về việc SDKS cho những bệnh nhẹ nhiều hơn so với những người không SDKS (21% so với 7%, p<0. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh 1.
Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới Nghiên cứu của Shadi Chamany và cộng sự tại Mỹ (2005) về kiến thức, thái độ và thực hành của 1031 bác sĩ đối với việc kê đơn cho các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cho thấy: 56% số bác sĩ được hỏi kê đơn có kháng sinh cho bệnh viêm phế quản và 43% kê đơn kháng sinh cho những trường hợp cảm lạnh thông thường [32].