CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN CƯỚP TÀI SẢN 1. Khái niệm, bản chất, chủ thể, phạm vi thực hành quyền công tố trong vụ án cướp tài sản 1. Khái niệm thực hành quyền công tố Trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta, Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm điển hình khi đề cập đến chức năng của VKS. Việc xác định khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn đều rất quan trọng.
Giải quyết tốt vấn đề này giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí, chức năng của VKS trong giai đoạn hiện nay; từ đó giúp những nhà hoạch định có những quyết định đúng đắn về tổ chức của VKS. Hơn nữa, giải quyết những vấn đề trên còn giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của VKS trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay. Nghiên cứu về lý luận về quyền công tố, trong thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhưng có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố. Tuy nhiên theo tác giả các quan điểm đưa ra đều không đúng với bản chất về quyền công tố.
Có quan điểm thì cho rằng quyền công tố không phải là chức năng độc lập mà là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Có quan điểm cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án hình sự người phạm tội. Có quan điểm thì đưa ra phạm vi hoạt động của quyền công tố quá rộng, không phù hợp với thực tiễn là phải coi trọng quyền quyết định và tự định đoạt của công dân trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Trong thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về quyền công tố, quy định tại BLTTHS năm 2003 và đặc biệt là BLTTHS năm 2015 đã tiếp cận gần hơn, rõ ràng và chính xác với quan niệm chung về quyền công tố.
Theo đó, tác giả đồng ý 7 với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội [31, tr. Nghiên cứu về lý luận về thực hành quyền công tố chúng ta thấy rằng, mãi cho đến khi Hiến pháp năm 1980 ra đời thì mới xuất hiện thuật ngữ “thực hành quyền công tố” trong văn bản pháp lý của Nhà nước.
Như vậy có thể nói, Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của VKS quy định tại Điều 138 của Hiến pháp năm 1981. Thuật ngữ này cũng được nhắc đến ở Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1981. Như vậy, trong hoạt động của VKSND, bên cạnh khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “thực hành quyền công tố”. Quy định này cũng được tiếp tục nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức VKSND năm 2002.
Thực hành quyền công tố là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của VKS được Đảng và Nhà nước giao cho. Thực hành quyền công tố là hoạt động quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chức năng, nhiệm vụ này của VKS được quy định rỏ ràng và cụ thể hơn ở Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND thì các văn bản pháp luật liên quan cũng có quy định về chức năng thực hành quyền công tố của VKS.
Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” đồng nghĩa với “thực hiện”[35]. VKS khi thực hiện quyền công tố thì phải sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. 8 Trên cơ sở đó, tác giả đồng ý với quan điểm: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử”. Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội [37].
Bản chất thực hành quyền công tố Ngoài chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND là để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014). Thì VKSND còn có chức năng thực hành quyền công tố, về bản chất thực hành quyền công tố là hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014). Trong hệ thống các cơ quan của Nhà nước ta, không có cơ quan nào có thể thay thế VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bởi vì những lý do sau đây: VKS là cơ quan duy nhất về mặt pháp lý có quyền phát động quyền công tố; VKS có quyền áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, VKS phải đảm bảo đầy đủ các căn cứ đúng theo quy định của pháp luật để truy tố bị can; Khi có đủ các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần thiết phải xử lý người phạm tội trước pháp luật, VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án. Tại phiên tòa, VKS có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bản án kết tội của HĐXX chính là việc chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội. 9 VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố từ: trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự (bao gồm việc: giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và khởi tố vụ án); trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố tội phạm; cho đến trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Quy định quyền năng chung của VKS khi thực hành quyền công tố, tại khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 có ghi cụ thể như sau: Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do BLTTHS quy định; Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của BLTTHS; Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định buộc tội đối với người phạm tội; Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; Quyết định truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKS phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Chủ thể thực hành quyền công tố Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Công tố của Nhà nước ta có thể nói, đó là Sắc lệnh số 33c ngày 13/9/1945 của Chính phủ, ban hành về việc thành lập Tòa án Quân sự, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án (đồng thời cũng là tiền thân của VKSND trong bộ máy nhà nước ta).
Quy định chức năng công tố, tại Điều V Sắc lệnh 33c quy định rõ “Đứng buộc tội là một Uỷ viên quân sự hay một Ủy viên của Ban Trinh sát”. Đây là, lần đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp lý do người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành. Tòa án Quân sự là Tòa án đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và quyền công tố.